Ngày 12. 9. 2009
Việc đồng nhất hai người là võ tướng dưới thời Lý Nam Đế đến nay chưa có hồi kết. Những tài liệu cổ ghi chép về hai vị không có nhiều bởi các sự kiện xảy ra thời nghìn năm Bắc thuộc rất hiếm nên không đầy đủ và khó khăn trong thẩm định. Tuy nhiên có việc đồng nhất này tất phải có lý do, trong đó phải xét đến nguồn tư liệu. Chúng ta thử khoanh vùng tư liệu xem từ đâu có việc đồng nhất này. Có thể chia làm 3 mảng tài liệu chính: Tài liệu chính thống xưa (gọi là Tài liệu cổ như cổ sử, văn bản cổ, văn bia, thần phả), tài liệu xuất bản hiện đại (Tài liệu hiện nay như sách, báo) và tư liệu khác trong dân gian như gia phả, truyền thuyết, truyền ngôn, … (gọi là tư liệu dân gian).
Nay chúng ta ưu tiên tài liệu cổ vì đó là tài liệu chính thức có trước và lại có cơ sở xác định niên đại. Còn sách hiện nay viết về hai nhân vật này sẽ dựa trên cơ sở là hai nguồn tư liệu kia.
A. CHÍNH SỬ
1. Đại Việt sử ký toàn thư (cuốn A1) là chính sử xưa nhất hiện còn tồn tại được khắc in và công bố lần đầu tiên vào năm 1697, Chính Hòa thứ 18 thời Lê Hy Tông. Sách đã ghi về 2 nhân vật như sau:
-Phạm Tu:
+ Mùa hạ năm Quý Hợi 543, tháng 4 vua Lâm Ấp cướp phá quận Nhật Nam, vua Lý Nam Đế sai tướng là Phạm Tu đánh tan ở Cửu Đức;
+ Tháng giêng năm Giáp Tý 544, Lý Nam Đế lập nhà nước Vạn Xuân, lấy Triệu Túc làm Thái phó, bọn Tinh Thiều, Phạm Tu làm tướng văn, tướng võ.
-Lý Phục Man: năm 1016 xuất hiện là vị thần trong giấc mộng của Lý Thái Tổ khi vua đi tuần thú qua Cổ Sở.
B. NGOÀI CHÍNH SỬ
1. Việt điện u linh tập (cuốn B1) do quan Phụng ngự Lý Tế Xuyên, biên soạn vào thời Lý-Trần dựa theo các tài liệu có trong thư khố triều đình.
-Phạm Tu: Trong truyện “Triệu Việt Vương, Lý Nam Đế” ghi việc Lý Bôn cử ông đánh Lâm Ấp
-Lý Phục Man: Trong truyện “Chứng an minh hộ quốc công-Lý Phục Man” đầu truyện kể giấc mộng của Lý Thái Tổ gặp thần (giống trong cuốn A1), sau kể các chuyện linh ứng của thần.
2. Tân đính hiệu bình Việt điện u linh tập (cuốn B2) của Gia Cát thị cuối thế kỷ 18 viết từ B1. Trong tác phẩm có truyện Vạn Xuân quốc đế ký ghi hai nhân vật đánh quân Lương ở Hợp Phố
-Phạm Tu là Hữu vệ hộ quân
-Lý Phục Man là Tả vệ hộ quân
Truyện này có nói đến quân Vạn Xuân chia đôi, từ Khuất Liêu, bên Lý tiến vào Cửu Chân và bên Triệu về Dạ Trạch.
3. Thiên Nam ngữ lục (cuốn B3) có từ thế kỷ 18 không rõ tác giả. Trong đó hai nhân vật xuất hiện ở 4 câu liên tiếp:
Phục Man trấn thủ cõi xa
Nghe tin Nam Đế phải thua Triệt Hồ
Vua cùng tướng quân Phạm Tu
Vào Khuất Liêu động thác hư lên trời
Xem thêm phân tích của PGS. TS. Trương Sỹ Hùng ở trang 25, 26 để thấy cuốn B3 phân biệt rõ hai nhân vật.
4. Lĩnh Nam trích quái: Một tài liệu cổ khác cần xem xét, sách được cho là do Trần Thế Pháp biên soạn vào cuối đời Trần. Vũ Quỳnh và Kiều Phú biên soạn lại và hiệu đính vào năm 1492-1493. Trong chuyện về Triệu Việt Vương có nói đến Lý Bí cử Phạm Tu đánh giặc ở Cửu Đức, còn chuyện về Lý Phục Man cũng viết tương tự cuốn “Việt điện u linh tập”. Vậy tài liệu này thống nhất với cuốn B1.
Như vậy chuyện ngoài chính sử xét về việc đồng nhất không có phần nào mâu thuẫn với chính sử. Cuốn B2, B3 đã cho Lý Phục Man xuất hiện là một nhân vật cùng thời Phạm Tu, hai nhân vật riêng biệt, hoàn toàn không đồng nhất. Có khác là cuốn B2 đã cho Lý Phục Man xuất hiện chỉ huy Tả quân, Phạm Tu chỉ huy Hữu quân đánh quân Lương ở Hợp Phố. Cuốn B3 thì cho là Lý Phục Man trấn thủ cõi xa (có thể miền Đỗ Động, Đường Lâm hoặc phương Nam-xứ Nghệ ngày nay) khi quân Lý Nam Đế thua ở hồ Điển Triệt (năm 547), còn Phạm Tu mất cùng Lý Nam Đế ở động Khuất Liêu.
Qua 5 tài liệu nêu trên thì B2, B3 là những sáng tác mang tính văn học đã nêu 2 nhân vật độc lập. Nếu muốn đồng nhất hai nhân vật thì phải loại hai tài liệu này, vì đó là sáng tác văn học, mà B3 còn không rõ tác giả. Hai tài liệu ở thế kỷ 18 này đã nêu hai nhân vật riêng biệt.
Cả hai cuốn A1, B1 tài liệu có nhân vật Lý Phục Man, với vị trí đều là một vị thần tự xưng tên Lý Phục Man và khi còn sống là võ tướng của Lý Nam Đế, không có một sự kiện lịch sử của nhân vật này ngoài việc thần xưng cai quản Đỗ Động, Đường Lâm. Lý Phục Man qua tài liệu cổ xem xét để đồng nhất thì là vị thần nên chưa có căn cứ để đồng nhất hai nhân vật này.
Còn Phạm Tu cũng xuất hiện trong sự kiện lịch sử ghi rõ thời gian xảy ra và có vị trí chỉ huy rõ ràng. Phạm Tu được nhắc đến 2 lần trong chính sử có công đánh giặc phương Nam (hai cuốn A1, B1) và đứng đầu tướng võ (cuốn A1) của triều đình Lý Nam Đế thời kỳ này. Các nhà nghiên cứu hiện nay xác thực thông tin về Phạm Tu và chiến thành dựng bên cửa sông Tô cùng việc hy sinh của ông tại đây. Trong đó có căn cứ từ sử thời nhà Lương, Trần (Bá Tiên) của Trung Quốc.
Một mảng tài liệu quan trọng đó chính là văn bia. Chúng ta sẽ nghiên cứu riêng về mảng tư liệu chính thống này ở một bài riêng.
Rõ ràng có một số tài liệu xuất bản hiện đại đã đồng nhất hai nhân vật, nhưng căn cứ là mảng tài liệu xuất bản cổ và tư liệu xưa trong dân gian. Vì không tìm được tài liệu cổ nào khác nên ta rút ra nhận xét ban đầu: không có cơ sở đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu xuất phát từ Tài liệu cổ hiện còn lưu giữ được.
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tháp Bút. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tháp Bút. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Bảy, 9 tháng 4, 2011
XÁC ĐỊNH THỜI GIAN XUẤT HIỆN VIỆC ĐỒNG NHẤT LÝ PHỤC MAN VỚI PHẠM TU
Tôi đã đọc khá kỹ bài viết hàng chục trang về Lý Phục Man của ông Nguyễn Thế Dũng đã đăng ba lần (sẽ còn đăng tiếp) trên blog Người làng Giá (NLG). Cố gắng xem có thấy quan điểm mang tính thuyết phục của việc đồng nhất không. Vẫn chưa có, và có lẽ sẽ không có! Vì nếu có cũng nêu ra chứ đâu cần dùng cụm song tên “Phạm Tu-Lý Phục Man” mà chỉ cần gọi “Phục Man tướng công”, hay “Lý phò mã” là đủ rồi.
Có cơ sở khoa học thì cũng không ai viết dài để bộc lộ mâu thuẫn mà trong đó rất nhiều điểm không thể là của Phạm Tu-trưởng ban Võ nhà nước Vạn Xuân, và có khi lại không còn là của Lý Phục Man nữa. Chúng ta thấy GS. Nguyễn Văn Huyên (1908-1975) cũng không tìm ra tên “khai sinh” của Lý Phục Man và khi đó ông đã chưa gặp vấn đề đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu. Rõ ràng việc đồng nhất đã xảy ra sau năm 1939-sau khi GS. Nguyễn Văn Huyên công bố công trình nghiên cứu về Lý Phục Man.
GS. Nguyễn mất năm 1975 ở CHDC Đức khi chữa bệnh tại đó, đây là mốc thời gian chúng ta có thể xem xét trước khi có thông tin về việc đồng nhất chính thức in trên sách phát hành rộng rãi năm 1991: “Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam” (Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội).
Có thể co hẹp thời gian là việc nghi vấn đã phôi thai từ trước và sau đó đến những năm 70 và 80 của thế kỷ trước đã bắt đầu xảy ra việc đồng nhất này và trở thành một chủ đề quan tâm của giới khoa học. Khi GS. Nguyễn Văn Huyên là Phó hội trưởng Hội Sử học (năm 1966 ông được bầu phó hội trưởng trong Đại hội thành lập), điều này chắc đã chưa công bố rộng rãi?
Xin trích đoạn viết của NLG làm căn cứ:
Học giả Nguyễn Văn Huyên đã viết “Lý Phục Man chỉ là cái tên vua ban. Cả tên lẫn họ đều không phải tên họ của Tướng công lúc ra đời. Được gia ân mang tên họ mới và sau đấy người ta chỉ còn gọi biệt danh đến nỗi tên gốc hoàn toàn biến mất”. Và dân làng Giá chỉ còn kiêng tên Man mà không kiêng tên Tu nữa. Sự thực là tên gốc của Tướng công không hoàn toàn mất. Một số cuốn sách bằng chữ Hán ghi lại sự tích của Tướng công vẫn còn đó, những lời truyền miệng trong dân gian do những nhà nho xưa kể lại vẫn còn đó: Phạm Tu và Lý Phục Man là danh xưng của một người, một nhân vật lịch sử quê gốc ở làng Giá xã Yên Sở, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Nói cách khác Phạm Tu chính là Lý Phục Man hay ngược lại Lý Phục Man chính là Phạm Tu.
GS. Nguyễn Văn Huyên quê xã Kim Chung, Hoài Đức ở ngay gần Yên Sở (cách khoảng 4km), cùng trên trục đường thiên lý xứ Đoài xưa, chúng ta tin tưởng ông là người có nhiều thông tin về Lý Phục Man nhất khi khai thác tài liệu có những năm ba mươi của thế kỷ trước. Cuốn “Hồi ức Nguyễn Văn Huyên” do con gái ông ghi lại cả một phần nói về các công trình khoa học trong đó có công trình mà chúng ta quan tâm.
«Nhưng có thể nói rằng đối với ngành dân tộc học Việt nam thì ông là người đầu tiên sử dụng các phương pháp khoa học hiện đại cho việc điền dã đó thì chính xác hơn. Các phương pháp ấy thể hiện rất rõ ngay từ trong chuẩn bị luận án tiến sĩ của ông về “Hát đối nam nữ” và “Nhà sàn Đông Nam Á”, cũng như trong tất cả các đề tài về sau này....
Đó chính là những phương pháp khoa học hiện đại đầu tiên mà ông đưa vào hai công trình nghiên cứu đó. Những cái đó là hoàn toàn mới, mang một hơi thở mới vào trong nghiên cứu văn hoá, lịch sử Việt nam. Sau khi về nước ông tiếp tục triển khai và sử dụng các phương pháp đó bây giờ ta gọi là phương pháp quan sát trực tiếp và tham dự. Thí dụ như khi ông viết về hội Gióng hay hội Lý Phục Man thì ông phải ở đấy cả tháng. Ở hội Lý Phục Man, ông ở tại đây 15 ngày, quan sát xem xét, tham gia và thực hiện ghi chép rất tỉ mỉ. Hiện nay ở nhà vẫn còn giữ được mấy quyển ghi chép của ông rất hay mà sau này nó được thể hiện trên các bài báo của ông.»
GS. Trần Quốc Vượng đánh giá: “Ông là một nhà khoa học nhân văn lớn và hiện đại đầu tiên ở nửa đầu thế kỷ 20 này”... “Giới nghiên cứu trẻ/già hôm nay còn được học và phải học ở ông nhiều về phương pháp luận và các phương pháp tiếp cận những sự kiện nhân văn, vừa cụ thể vừa tổng thể.” (Theo cuốn “Trần Quốc Vượng”, trang 945).
Có cơ sở khoa học thì cũng không ai viết dài để bộc lộ mâu thuẫn mà trong đó rất nhiều điểm không thể là của Phạm Tu-trưởng ban Võ nhà nước Vạn Xuân, và có khi lại không còn là của Lý Phục Man nữa. Chúng ta thấy GS. Nguyễn Văn Huyên (1908-1975) cũng không tìm ra tên “khai sinh” của Lý Phục Man và khi đó ông đã chưa gặp vấn đề đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu. Rõ ràng việc đồng nhất đã xảy ra sau năm 1939-sau khi GS. Nguyễn Văn Huyên công bố công trình nghiên cứu về Lý Phục Man.
GS. Nguyễn mất năm 1975 ở CHDC Đức khi chữa bệnh tại đó, đây là mốc thời gian chúng ta có thể xem xét trước khi có thông tin về việc đồng nhất chính thức in trên sách phát hành rộng rãi năm 1991: “Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam” (Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội).
Có thể co hẹp thời gian là việc nghi vấn đã phôi thai từ trước và sau đó đến những năm 70 và 80 của thế kỷ trước đã bắt đầu xảy ra việc đồng nhất này và trở thành một chủ đề quan tâm của giới khoa học. Khi GS. Nguyễn Văn Huyên là Phó hội trưởng Hội Sử học (năm 1966 ông được bầu phó hội trưởng trong Đại hội thành lập), điều này chắc đã chưa công bố rộng rãi?
Xin trích đoạn viết của NLG làm căn cứ:
Học giả Nguyễn Văn Huyên đã viết “Lý Phục Man chỉ là cái tên vua ban. Cả tên lẫn họ đều không phải tên họ của Tướng công lúc ra đời. Được gia ân mang tên họ mới và sau đấy người ta chỉ còn gọi biệt danh đến nỗi tên gốc hoàn toàn biến mất”. Và dân làng Giá chỉ còn kiêng tên Man mà không kiêng tên Tu nữa. Sự thực là tên gốc của Tướng công không hoàn toàn mất. Một số cuốn sách bằng chữ Hán ghi lại sự tích của Tướng công vẫn còn đó, những lời truyền miệng trong dân gian do những nhà nho xưa kể lại vẫn còn đó: Phạm Tu và Lý Phục Man là danh xưng của một người, một nhân vật lịch sử quê gốc ở làng Giá xã Yên Sở, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Nói cách khác Phạm Tu chính là Lý Phục Man hay ngược lại Lý Phục Man chính là Phạm Tu.
GS. Nguyễn Văn Huyên quê xã Kim Chung, Hoài Đức ở ngay gần Yên Sở (cách khoảng 4km), cùng trên trục đường thiên lý xứ Đoài xưa, chúng ta tin tưởng ông là người có nhiều thông tin về Lý Phục Man nhất khi khai thác tài liệu có những năm ba mươi của thế kỷ trước. Cuốn “Hồi ức Nguyễn Văn Huyên” do con gái ông ghi lại cả một phần nói về các công trình khoa học trong đó có công trình mà chúng ta quan tâm.
«Nhưng có thể nói rằng đối với ngành dân tộc học Việt nam thì ông là người đầu tiên sử dụng các phương pháp khoa học hiện đại cho việc điền dã đó thì chính xác hơn. Các phương pháp ấy thể hiện rất rõ ngay từ trong chuẩn bị luận án tiến sĩ của ông về “Hát đối nam nữ” và “Nhà sàn Đông Nam Á”, cũng như trong tất cả các đề tài về sau này....
Đó chính là những phương pháp khoa học hiện đại đầu tiên mà ông đưa vào hai công trình nghiên cứu đó. Những cái đó là hoàn toàn mới, mang một hơi thở mới vào trong nghiên cứu văn hoá, lịch sử Việt nam. Sau khi về nước ông tiếp tục triển khai và sử dụng các phương pháp đó bây giờ ta gọi là phương pháp quan sát trực tiếp và tham dự. Thí dụ như khi ông viết về hội Gióng hay hội Lý Phục Man thì ông phải ở đấy cả tháng. Ở hội Lý Phục Man, ông ở tại đây 15 ngày, quan sát xem xét, tham gia và thực hiện ghi chép rất tỉ mỉ. Hiện nay ở nhà vẫn còn giữ được mấy quyển ghi chép của ông rất hay mà sau này nó được thể hiện trên các bài báo của ông.»
GS. Trần Quốc Vượng đánh giá: “Ông là một nhà khoa học nhân văn lớn và hiện đại đầu tiên ở nửa đầu thế kỷ 20 này”... “Giới nghiên cứu trẻ/già hôm nay còn được học và phải học ở ông nhiều về phương pháp luận và các phương pháp tiếp cận những sự kiện nhân văn, vừa cụ thể vừa tổng thể.” (Theo cuốn “Trần Quốc Vượng”, trang 945).
Nhãn:
Đi tìm cơ sở,
Tháp Bút
TRẢ LỜI MỘT SỐ Ý KIẾN CỦA NGƯỜI VIẾT BLOG NGƯỜI LÀNG GIÁ VỀ DANH TƯỚNG PHẠM TU Ở THANH LIỆT
Ngày 29. 9. 2009
Bài viết này để phần nào trả lời các bài viết về Lý Phục Man có một số suy nghĩ của ông Nguyễn Thế Dũng-người viết blog NLG hiện ở đội 3 xã Yên Sở, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội (điện thoại: 04. 3366 7224) với suy nghĩ tôn trọng người cao tuổi viết blog này (đã ngoài 70 tuổi) đồng thời kính trọng danh nhân Phạm Tu (476-545) đã sống, đánh giặc vì đất nước, vì người dân quê hương ông (Thăng Long-Hà Nội xưa) cách đây 15 thế kỷ. Ông đã mất ở tuổi 70 ngay ngoài chiến trận-chiến thành ở cửa sông Tô Lịch. Tháp Bút có độ tuổi bằng một nửa tuổi 70 với suy nghĩ còn nhiều điều chưa thấu đáo, kiến thức còn hạn hẹp cũng xin trả lời một số vấn đề chính đã nêu trên blog Người làng Giá:
Có thể quan điểm tách rời Phạm Tu-Lý Phục Man là hai nhân vật lịch sử riêng rẽ của dòng họ Phạm ở Thanh Liệt là căn cứ vào một “khám phá” gây nhiều tranh cãi của nhà sử học Lê Văn Lan. Trong bài viết “Phát hiện sử học mới về Lão tướng quân Phạm Tu” cũng đăng trên báo Quân đội Nhân dân cuối tuần số ra ngày 06/12/1998. Mặc dầu nhà sử học họ Lê reo lên là “phát hiện sử học mới “ là “may thay gần đây đã có những công phu để bắt được sóng tín hiệu mới rất có giá trị về lão tướng quân Phạm Tu” nhưng oái ăm thay, “cũ người mới ta”, những gì được coi là mới ở đây đã được nhiều nhà sử học nghiên cứu, xem xét từ trước đó 16 năm rồi. Đó là cuộc khảo sát, nghiên cứu khá công phu của giáo sư Phan Huy Lê, chủ tịch Hội khoa học Lịch sử Việt Nam cùng với Đại tá Phó viện trưởng Viện sử học Quân đội Phan Huy Thiệp, Tiến sĩ sử học quân đội Nguyễn Anh cùng đông đảo các cộng sự tại Thanh Liệt, Thanh Trì từ giữa năm 1982 của thế kỷ trước. Kết quả cuộc khảo sát này đã được thông báo tại cuộc hội thảo về Phạm Tu-Lý Phục Man tại xã Yên Sở, Hoài Đức, Hà Tây, ngày 25/12/1982. Sau đó, giáo sư Phan Huy Lê cho đăng bài “Kẻ Giá một làng chiến đấu” trên tạp chí Dân tộc học số 46 tháng 2/1985 trong đó có nói đến cuộc khảo sát của giáo sư và đồng nghiệp tại Thanh Liệt năm 1982. Kết quả của những cuộc khảo sát này cho thấy:
- Bản Thần phả của Đình Ngoại xã Thanh Liệt có tiêu đề “Cảm ứng cư sĩ Phạm Tu Thụy Đô hồ Đại vương Thượng đẳng thần sử tích” mới được chép lại tại đền Hùng (Phú Thọ) năm Bảo Đại thứ 9 (1934) mà “chép lại một cách sơ sài, không cẩn thận, có chữ còn để trống hay bỏ sót”. Đây có lẽ là sự tích một vị cư sĩ ở ẩn, một phật tử tu tại gia (cư sĩ), sau khi mất có sự linh ứng (cảm ứng) nên được phong tên thụy là Đô hồ, quan võ trông coi hồ nước của địa phương này đó là hồ Thanh đàm. Thật kỳ lạ, sau này có người lại giải thích chữ “đô” gốc Hán (trong sắc phong) thành chữ “đô” tiếng Việt trong “đô vật” rồi lại chuyển Phạm Tu thành Phạm Đô Tu, một tên riêng rất xa lạ với nhân vật lịch sử Phạm Tu, đã được Ngô Sĩ Liên viết trong Đại Việt sử ký toàn thư.
- Tấm bài vị ở đây cũng đã rõ “Bản thổ Tiền Lý Triều Long biên hầu, Đô hồ Đại vương Thần vị” Vị thành hoàng ở đây được phong tặng tước hầu, vị thần trông coi hồ nước-Về sắc phong của các triều đại ban tặng cho Đô hồ đại vương ở đây có 13 đạo, cổ nhất là đạo sắc của vua Lê Cảnh Hưng năm thứ nhất (1740) và gần nhất là của vua Khải Định, nhà Nguyễn (1916-1925). Nội dung chủ yếu của các đạo sắc phong này là nói về sự linh ứng của Thần, trong đó, đặc biệt có vài ba đạo sắc đời vua Minh Mệnh, năm thứ 5 (1824) ban tặng “Thủy thần phán quan”-ban cho Thần coi sóc mặt nước. Đạo sắc đời vua Tự Đức thứ 3 (1850) tặng mỹ tự “Trường trạm” nghĩa là giữ nước luôn trong trẻo, đời vua Duy Tân ban tặng mỹ tự “Linh Thuý” nghĩa là giữ mặt nước luôn trong trẻo, không pha tạp... Rõ ràng đó là những chữ đẹp phong cho một vị Thần trông giữ hồ nước.
- Tấm bia đá trong đình nói là tấm bia có từ đời Lương (?) Trung quốc (thế kỷ thứ 6) thực ra chỉ là một tấm bia hậu dựng năm Giáp Thìn (1904) đời vua Thành Thái nhà Nguyễn, thờ cụ Phạm Tế, quê gốc Thanh Hóa, thiên cư ra Thanh Liệt mới được dăm sáu đời nay.
- Bức tranh thờ nói là chân dung Phạm Tu là một tấm hình vẽ trên một mảnh lụa đã cũ, một người dân ở Thanh Liệt là cụ Nhiêu Cỏn mới vẽ lại trên một tờ giấy tây. Đoàn khảo sát năm 1982 đã gặp người vẽ lại tấm hình và được xác nhận là đúng.
- Đình ngoại thờ Đô hồ đại vương là một ngôi đình có qui mô khá khiêm tốn, được tọa lạc ngay bờ hồ, ven làng, cũng mới được tân tạo thời Lê Hiển Tông (1740-1786) đến nay mới có vài trăm năm. Việc bài trí, trần thiết cũng còn sơ sài, đến cỗ kiệu rước cũng không có, phải dùng kiệu ở Định nội mỗi khi rước hội. Nếu quả thật danh tướng Phạm Tu quê ở Thanh Liệt thì nhân dân địa phương chẳng lẽ lại bỏ quên người con trung liệt của quê hương tới 12 thế kỷ sau mới lập ngôi đền thờ quá khiêm tốn đến vậy? Cả các vương triều phong kiến xưa hình như cũng lẵng quên vị khai cuốc công thần nhà Tiền Lý nên đến tận đời Lê Cảnh Hưng mới dựng đình thờ? Ai cũng biết, đại danh nho Chu Văn An (1292-1370) đời Trần, người làng Thanh Liệt sống sau Phạm Tu bảy tám trăm năm lại không hề có một dòng lưu bút nào về người anh hùng kiệt xuất của đất nước, vị tiền bối lỗi lạc cùng quê hương.
- Một điều quan trọng nữa cần chú ý là nếu Phạm Tu là Đô hồ đại vương ở Thanh Liệt thì sao cả một vùng rộng lớn xung quanh nơi này nói riêng và cả miền Bắc Việt Nam nói chung, nơi được ảnh hưởng trực tiếp của cuộc khởi nghĩa Lý Bí hầu như không nơi nào lập đền thờ. Cuốn Linh thần Việt Nam của giáo sư Vũ Ngọc Khánh và Phạm Minh Thảo, nhà xuất bản VHTT năm 2002 chỉ tìm được 3 địa phương có thờ Đô hồ đại vương. Tuy nhiên chưa xác định được Đô Hồ Đại vương có phải là Phạm Tu hay không!
- Vấn đề cuối cùng cần làm rõ là theo tài liệu của dòng họ Phạm ở Thanh Liệt thì Phạm Tu là một lão tướng. Năm 542 cuộc khởi nghĩa Lý Bí nổi dậy, lúc đó ông đã 67 tuổi. Mặc dầu được mô tả là một đô vật thời trai trẻ nhưng với một người già cả, trước khi cuộc khởi nghĩa nổ ra, không hề có hành trạng gì, liệu có đủ tài sức để đối đầu với bọn giặc Lương? Cũng theo tài liệu này, năm 543, vua Lâm ấp lẫn chiếm bờ cõi phía nam, tướng biên ải là Lý Phục Man không chặn được giặc, vua lại phải sai lão tướng Phạm Tu đem đại binh vào nam mới đánh tan được quân Chiêm tại Cửu đức. Sau cuộc trường chinh này, trở ra, vị lão tướng lại phải đương đầu với quân Lương của Trần Bá Tiên ở cửa sông Tô Lịch và hy sinh tại đây. Ba năm trời, một ông lão 70 tuổi vụt đứng dậy xung trận, đánh Bắc dẹp Nam bấy nhiêu công tích liệu có đủ cơ sở để tin cậy?
(Theo NLG)
1. Trước hết phải nêu rõ 7 nhận xét trên không phải của GS. Phan Huy Lê không hoàn toàn là các kết quả rút ra từ đoàn khảo sát của các nhà sử học từ năm 1982 mà trong đó có cả của NLG. Cách viết khi thống kê dễ làm người đọc lầm tưởng là nhận xét của GS. Phan. Ở nhận xét thứ 6 lại lấy thông tin từ sách in năm 2002, như vậy những năm 1980 không thể có. Tôi cũng đã đưa thông tin từ đầu năm 2009 vào thông tin về cụ Phạm Tu trên http://vi.wikipedia.org/ trong nội dung Nơi thờ cúng (xem tr. 127). Đọc ý kiến này của NLG, có câu rất giống câu của Tháp Bút đã viết: “tuy nhiên chưa xác định được những nơi đó có phải chính là nơi thờ Đô Hồ Đại vương Phạm Tu hay không.”
2. Ở nhận xét thứ 5 xin trả lời:
Hai nhân vật nổi tiếng sống cuối thời Trần đầu thời Lê (sống sau Phạm Tu trên 800 năm và trước thời nay trên dưới 600 năm) đó là Chu Văn An và Nguyễn Trãi. Xét trong Bình Ngô đại cáo để thấy nhãn quan của bậc tiền bối về lịch sử nước nhà trước đó:
“Từ Triệu Đinh Lý Trần bao đời gây nền độc lập
Cùng Hán Đường Tống Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương”
Các vị đại danh Nho thời đó đã chưa vén hết bức màn ngàn năm Bắc thuộc, phần vì đô hộ dài dằng dặc và rồi chiến tranh liên miên. Các giá trị vật chất, phi vật chất hầu như bị tàn phá, hủy hoại trong đó có cả đền thờ miếu mạo thờ các vị anh hùng từ xa xưa. Ngay trong các di tích còn những đại tự, câu đối mà ngày nay chúng ta không thể xác định tác giả, niên đại.
Giai đoạn sau khi quân Lương rút về, đất nước lại nội chiến Triệu-Lý tạo nên đám mây bao phủ hào quang của nhà nước Vạn Xuân. Thế là các vị như Chu Văn An, Nguyễn Trãi có thể cũng cho triều Lý Nam Đế cũng nhạt nhòa như các cuộc khởi nghĩa khác giữa hai thời Triệu (Đà)-Đinh. Không quan tâm đúng mức đến việc thành lập nhà nước Vạn Xuân thì các nhân vật thời kỳ đó bị lãng quên cũng là điều dễ hiểu. Chưa kể các di sản văn hóa viết đã bị giặc Minh thu gom tiêu hủy hầu như toàn bộ. Chứng cứ là nhiều thông tin trước thời Lê Thái Tổ chúng ta phải căn cứ vào sử Trung Quốc nhưng phải chắt lọc mới có thể lấy được thông tin thực về lịch sử nước nhà. Ngày nay, có người đã chứng minh khởi nghĩa Mai Thúc Loan diễn ra trong 10 năm từ 713-722 chứ không thể diễn ra chỉ trong năm 722 sau việc “cống vải” là một sáng tác văn học sau này.
Di tích thờ Phạm Tu lâu đời nhất phải kể đến Miếu Vực, đây chính là gạch nối giữa đền thờ Phạm Tu thời Tiền-Hậu Lý Nam Đế (544-602) đến khi lập Đình Ngoại, gạch nối này ngày nay vẫn tồn tại. Có thể đền thờ Phạm Tu được lập thời Hậu Lý Nam Đế-Lý Phật Tử chứ không thể lập thời Lý Nam Đế-Lý Bí. Năm 545 nhà Lương ào ạt đánh sang, chiếm được thành cửa sông Tô Lịch, vùng Thanh Liệt lúc đó đã bị quân giặc khống chế hoàn toàn và do liên tiếp bị tấn công, vài năm sau Lý Bí mất ở Khuất Liêu. Không có đủ thời gian, điều kiện để Lý Bí cho lập đền thờ suy tôn lão tướng Phạm Tu. Việc làm đó chỉ diễn ra khi chiến tranh kết thúc, và phù hợp hơn đó là khi Lý Phật Tử nắm quyền, Phạm Tĩnh (con của Phạm Tu) lúc đó là Tướng quốc. Thời Lý Phật Tử trị vì thường gọi là Hậu Lý Nam Đế (571-602) mà nhiều tài liệu vẫn ghi là thời Lý Nam Đế (không có chữ Hậu ở đầu).
3. Ở nhận xét thứ 7: Dân gian có câu “Khôn đâu đến trẻ, khỏe đâu đến già”. Nhưng với mỗi người thì các mốc trẻ-già cũng không thể ai cũng giống ai. Với lão tướng Phạm Tu 70 tuổi chưa hẳn là tuổi già đã đến, ông vốn là đô vật nổi tiếng, rèn luyện thường xuyên thì sức nhiều trai trẻ không địch được. Phải nêu lên tài chỉ huy của lão tướng Phạm Tu (cao tuổi) chứ không thể nói già không ra trận, không thể làm nên công trạng được. Nếu không sẽ trở thành phủ nhận công lao của nhân dân Vạn Xuân trong mấy năm dựng và giữ nước tạo nên trang sử hào hùng cho dân tộc. Phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng mới có được khởi nghĩa thắng lợi ở tất cả các địa phương. Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một minh chứng gần và rõ nhất.
Bài viết này để phần nào trả lời các bài viết về Lý Phục Man có một số suy nghĩ của ông Nguyễn Thế Dũng-người viết blog NLG hiện ở đội 3 xã Yên Sở, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội (điện thoại: 04. 3366 7224) với suy nghĩ tôn trọng người cao tuổi viết blog này (đã ngoài 70 tuổi) đồng thời kính trọng danh nhân Phạm Tu (476-545) đã sống, đánh giặc vì đất nước, vì người dân quê hương ông (Thăng Long-Hà Nội xưa) cách đây 15 thế kỷ. Ông đã mất ở tuổi 70 ngay ngoài chiến trận-chiến thành ở cửa sông Tô Lịch. Tháp Bút có độ tuổi bằng một nửa tuổi 70 với suy nghĩ còn nhiều điều chưa thấu đáo, kiến thức còn hạn hẹp cũng xin trả lời một số vấn đề chính đã nêu trên blog Người làng Giá:
Có thể quan điểm tách rời Phạm Tu-Lý Phục Man là hai nhân vật lịch sử riêng rẽ của dòng họ Phạm ở Thanh Liệt là căn cứ vào một “khám phá” gây nhiều tranh cãi của nhà sử học Lê Văn Lan. Trong bài viết “Phát hiện sử học mới về Lão tướng quân Phạm Tu” cũng đăng trên báo Quân đội Nhân dân cuối tuần số ra ngày 06/12/1998. Mặc dầu nhà sử học họ Lê reo lên là “phát hiện sử học mới “ là “may thay gần đây đã có những công phu để bắt được sóng tín hiệu mới rất có giá trị về lão tướng quân Phạm Tu” nhưng oái ăm thay, “cũ người mới ta”, những gì được coi là mới ở đây đã được nhiều nhà sử học nghiên cứu, xem xét từ trước đó 16 năm rồi. Đó là cuộc khảo sát, nghiên cứu khá công phu của giáo sư Phan Huy Lê, chủ tịch Hội khoa học Lịch sử Việt Nam cùng với Đại tá Phó viện trưởng Viện sử học Quân đội Phan Huy Thiệp, Tiến sĩ sử học quân đội Nguyễn Anh cùng đông đảo các cộng sự tại Thanh Liệt, Thanh Trì từ giữa năm 1982 của thế kỷ trước. Kết quả cuộc khảo sát này đã được thông báo tại cuộc hội thảo về Phạm Tu-Lý Phục Man tại xã Yên Sở, Hoài Đức, Hà Tây, ngày 25/12/1982. Sau đó, giáo sư Phan Huy Lê cho đăng bài “Kẻ Giá một làng chiến đấu” trên tạp chí Dân tộc học số 46 tháng 2/1985 trong đó có nói đến cuộc khảo sát của giáo sư và đồng nghiệp tại Thanh Liệt năm 1982. Kết quả của những cuộc khảo sát này cho thấy:
- Bản Thần phả của Đình Ngoại xã Thanh Liệt có tiêu đề “Cảm ứng cư sĩ Phạm Tu Thụy Đô hồ Đại vương Thượng đẳng thần sử tích” mới được chép lại tại đền Hùng (Phú Thọ) năm Bảo Đại thứ 9 (1934) mà “chép lại một cách sơ sài, không cẩn thận, có chữ còn để trống hay bỏ sót”. Đây có lẽ là sự tích một vị cư sĩ ở ẩn, một phật tử tu tại gia (cư sĩ), sau khi mất có sự linh ứng (cảm ứng) nên được phong tên thụy là Đô hồ, quan võ trông coi hồ nước của địa phương này đó là hồ Thanh đàm. Thật kỳ lạ, sau này có người lại giải thích chữ “đô” gốc Hán (trong sắc phong) thành chữ “đô” tiếng Việt trong “đô vật” rồi lại chuyển Phạm Tu thành Phạm Đô Tu, một tên riêng rất xa lạ với nhân vật lịch sử Phạm Tu, đã được Ngô Sĩ Liên viết trong Đại Việt sử ký toàn thư.
- Tấm bài vị ở đây cũng đã rõ “Bản thổ Tiền Lý Triều Long biên hầu, Đô hồ Đại vương Thần vị” Vị thành hoàng ở đây được phong tặng tước hầu, vị thần trông coi hồ nước-Về sắc phong của các triều đại ban tặng cho Đô hồ đại vương ở đây có 13 đạo, cổ nhất là đạo sắc của vua Lê Cảnh Hưng năm thứ nhất (1740) và gần nhất là của vua Khải Định, nhà Nguyễn (1916-1925). Nội dung chủ yếu của các đạo sắc phong này là nói về sự linh ứng của Thần, trong đó, đặc biệt có vài ba đạo sắc đời vua Minh Mệnh, năm thứ 5 (1824) ban tặng “Thủy thần phán quan”-ban cho Thần coi sóc mặt nước. Đạo sắc đời vua Tự Đức thứ 3 (1850) tặng mỹ tự “Trường trạm” nghĩa là giữ nước luôn trong trẻo, đời vua Duy Tân ban tặng mỹ tự “Linh Thuý” nghĩa là giữ mặt nước luôn trong trẻo, không pha tạp... Rõ ràng đó là những chữ đẹp phong cho một vị Thần trông giữ hồ nước.
- Tấm bia đá trong đình nói là tấm bia có từ đời Lương (?) Trung quốc (thế kỷ thứ 6) thực ra chỉ là một tấm bia hậu dựng năm Giáp Thìn (1904) đời vua Thành Thái nhà Nguyễn, thờ cụ Phạm Tế, quê gốc Thanh Hóa, thiên cư ra Thanh Liệt mới được dăm sáu đời nay.
- Bức tranh thờ nói là chân dung Phạm Tu là một tấm hình vẽ trên một mảnh lụa đã cũ, một người dân ở Thanh Liệt là cụ Nhiêu Cỏn mới vẽ lại trên một tờ giấy tây. Đoàn khảo sát năm 1982 đã gặp người vẽ lại tấm hình và được xác nhận là đúng.
- Đình ngoại thờ Đô hồ đại vương là một ngôi đình có qui mô khá khiêm tốn, được tọa lạc ngay bờ hồ, ven làng, cũng mới được tân tạo thời Lê Hiển Tông (1740-1786) đến nay mới có vài trăm năm. Việc bài trí, trần thiết cũng còn sơ sài, đến cỗ kiệu rước cũng không có, phải dùng kiệu ở Định nội mỗi khi rước hội. Nếu quả thật danh tướng Phạm Tu quê ở Thanh Liệt thì nhân dân địa phương chẳng lẽ lại bỏ quên người con trung liệt của quê hương tới 12 thế kỷ sau mới lập ngôi đền thờ quá khiêm tốn đến vậy? Cả các vương triều phong kiến xưa hình như cũng lẵng quên vị khai cuốc công thần nhà Tiền Lý nên đến tận đời Lê Cảnh Hưng mới dựng đình thờ? Ai cũng biết, đại danh nho Chu Văn An (1292-1370) đời Trần, người làng Thanh Liệt sống sau Phạm Tu bảy tám trăm năm lại không hề có một dòng lưu bút nào về người anh hùng kiệt xuất của đất nước, vị tiền bối lỗi lạc cùng quê hương.
- Một điều quan trọng nữa cần chú ý là nếu Phạm Tu là Đô hồ đại vương ở Thanh Liệt thì sao cả một vùng rộng lớn xung quanh nơi này nói riêng và cả miền Bắc Việt Nam nói chung, nơi được ảnh hưởng trực tiếp của cuộc khởi nghĩa Lý Bí hầu như không nơi nào lập đền thờ. Cuốn Linh thần Việt Nam của giáo sư Vũ Ngọc Khánh và Phạm Minh Thảo, nhà xuất bản VHTT năm 2002 chỉ tìm được 3 địa phương có thờ Đô hồ đại vương. Tuy nhiên chưa xác định được Đô Hồ Đại vương có phải là Phạm Tu hay không!
- Vấn đề cuối cùng cần làm rõ là theo tài liệu của dòng họ Phạm ở Thanh Liệt thì Phạm Tu là một lão tướng. Năm 542 cuộc khởi nghĩa Lý Bí nổi dậy, lúc đó ông đã 67 tuổi. Mặc dầu được mô tả là một đô vật thời trai trẻ nhưng với một người già cả, trước khi cuộc khởi nghĩa nổ ra, không hề có hành trạng gì, liệu có đủ tài sức để đối đầu với bọn giặc Lương? Cũng theo tài liệu này, năm 543, vua Lâm ấp lẫn chiếm bờ cõi phía nam, tướng biên ải là Lý Phục Man không chặn được giặc, vua lại phải sai lão tướng Phạm Tu đem đại binh vào nam mới đánh tan được quân Chiêm tại Cửu đức. Sau cuộc trường chinh này, trở ra, vị lão tướng lại phải đương đầu với quân Lương của Trần Bá Tiên ở cửa sông Tô Lịch và hy sinh tại đây. Ba năm trời, một ông lão 70 tuổi vụt đứng dậy xung trận, đánh Bắc dẹp Nam bấy nhiêu công tích liệu có đủ cơ sở để tin cậy?
(Theo NLG)
1. Trước hết phải nêu rõ 7 nhận xét trên không phải của GS. Phan Huy Lê không hoàn toàn là các kết quả rút ra từ đoàn khảo sát của các nhà sử học từ năm 1982 mà trong đó có cả của NLG. Cách viết khi thống kê dễ làm người đọc lầm tưởng là nhận xét của GS. Phan. Ở nhận xét thứ 6 lại lấy thông tin từ sách in năm 2002, như vậy những năm 1980 không thể có. Tôi cũng đã đưa thông tin từ đầu năm 2009 vào thông tin về cụ Phạm Tu trên http://vi.wikipedia.org/ trong nội dung Nơi thờ cúng (xem tr. 127). Đọc ý kiến này của NLG, có câu rất giống câu của Tháp Bút đã viết: “tuy nhiên chưa xác định được những nơi đó có phải chính là nơi thờ Đô Hồ Đại vương Phạm Tu hay không.”
2. Ở nhận xét thứ 5 xin trả lời:
Hai nhân vật nổi tiếng sống cuối thời Trần đầu thời Lê (sống sau Phạm Tu trên 800 năm và trước thời nay trên dưới 600 năm) đó là Chu Văn An và Nguyễn Trãi. Xét trong Bình Ngô đại cáo để thấy nhãn quan của bậc tiền bối về lịch sử nước nhà trước đó:
“Từ Triệu Đinh Lý Trần bao đời gây nền độc lập
Cùng Hán Đường Tống Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương”
Các vị đại danh Nho thời đó đã chưa vén hết bức màn ngàn năm Bắc thuộc, phần vì đô hộ dài dằng dặc và rồi chiến tranh liên miên. Các giá trị vật chất, phi vật chất hầu như bị tàn phá, hủy hoại trong đó có cả đền thờ miếu mạo thờ các vị anh hùng từ xa xưa. Ngay trong các di tích còn những đại tự, câu đối mà ngày nay chúng ta không thể xác định tác giả, niên đại.
Giai đoạn sau khi quân Lương rút về, đất nước lại nội chiến Triệu-Lý tạo nên đám mây bao phủ hào quang của nhà nước Vạn Xuân. Thế là các vị như Chu Văn An, Nguyễn Trãi có thể cũng cho triều Lý Nam Đế cũng nhạt nhòa như các cuộc khởi nghĩa khác giữa hai thời Triệu (Đà)-Đinh. Không quan tâm đúng mức đến việc thành lập nhà nước Vạn Xuân thì các nhân vật thời kỳ đó bị lãng quên cũng là điều dễ hiểu. Chưa kể các di sản văn hóa viết đã bị giặc Minh thu gom tiêu hủy hầu như toàn bộ. Chứng cứ là nhiều thông tin trước thời Lê Thái Tổ chúng ta phải căn cứ vào sử Trung Quốc nhưng phải chắt lọc mới có thể lấy được thông tin thực về lịch sử nước nhà. Ngày nay, có người đã chứng minh khởi nghĩa Mai Thúc Loan diễn ra trong 10 năm từ 713-722 chứ không thể diễn ra chỉ trong năm 722 sau việc “cống vải” là một sáng tác văn học sau này.
Di tích thờ Phạm Tu lâu đời nhất phải kể đến Miếu Vực, đây chính là gạch nối giữa đền thờ Phạm Tu thời Tiền-Hậu Lý Nam Đế (544-602) đến khi lập Đình Ngoại, gạch nối này ngày nay vẫn tồn tại. Có thể đền thờ Phạm Tu được lập thời Hậu Lý Nam Đế-Lý Phật Tử chứ không thể lập thời Lý Nam Đế-Lý Bí. Năm 545 nhà Lương ào ạt đánh sang, chiếm được thành cửa sông Tô Lịch, vùng Thanh Liệt lúc đó đã bị quân giặc khống chế hoàn toàn và do liên tiếp bị tấn công, vài năm sau Lý Bí mất ở Khuất Liêu. Không có đủ thời gian, điều kiện để Lý Bí cho lập đền thờ suy tôn lão tướng Phạm Tu. Việc làm đó chỉ diễn ra khi chiến tranh kết thúc, và phù hợp hơn đó là khi Lý Phật Tử nắm quyền, Phạm Tĩnh (con của Phạm Tu) lúc đó là Tướng quốc. Thời Lý Phật Tử trị vì thường gọi là Hậu Lý Nam Đế (571-602) mà nhiều tài liệu vẫn ghi là thời Lý Nam Đế (không có chữ Hậu ở đầu).
3. Ở nhận xét thứ 7: Dân gian có câu “Khôn đâu đến trẻ, khỏe đâu đến già”. Nhưng với mỗi người thì các mốc trẻ-già cũng không thể ai cũng giống ai. Với lão tướng Phạm Tu 70 tuổi chưa hẳn là tuổi già đã đến, ông vốn là đô vật nổi tiếng, rèn luyện thường xuyên thì sức nhiều trai trẻ không địch được. Phải nêu lên tài chỉ huy của lão tướng Phạm Tu (cao tuổi) chứ không thể nói già không ra trận, không thể làm nên công trạng được. Nếu không sẽ trở thành phủ nhận công lao của nhân dân Vạn Xuân trong mấy năm dựng và giữ nước tạo nên trang sử hào hùng cho dân tộc. Phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng mới có được khởi nghĩa thắng lợi ở tất cả các địa phương. Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một minh chứng gần và rõ nhất.
Nhãn:
Đi tìm cơ sở,
Tháp Bút
GÓP Ý VỚI TÁC GIẢ TRƯƠNG SỸ HÙNG VÀ BAN BIÊN TẬP THÔNG BÁO HÁN NÔM 2009
Ngày 28. 8. 2010
Danh tướng Phạm Tu, người đứng đầu hàng võ của nhà nước Vạn Xuân là trụ cột triều đình Lý Nam Đế được thống nhất ghi trong sử sách. Một danh nhân không có ai có thể phủ nhận công lao của Tướng công đối với vùng đất Thủ đô dù đã trải qua 15 thế kỷ. Thế nhưng nghi vấn lịch sử lẽ ra phải xếp một bên để đặt tên đường phố mang tên ông. Cho dù có thể đặt tên của Tướng công thành tên một quận của Thủ đô (Chúng ta tin rằng Tướng công là một trong những vị thần thiêng nhất của Kinh đô, gắn với đất Long Đỗ) thế nhưng đến giữa năm 2010 này tên ông còn chưa được đặt cho một con đường nơi ông sinh ra, nơi ông ngã xuống và vẫn tiếp tục bảo vệ mảnh đất ấy theo chiều dài lịch sử của Đất nước. Việc chưa có tên đường Phạm Tu ở thủ đô là điều ngạc nhiên đối với những người biết về Phạm Tu trong đó có những nhà nghiên cứu của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Nhân dịp đại lễ 1000 năm Thăng Long, hãy đặt tên cho các con đường đẹp ở Thủ đô mang tên các danh nhân như Triệu Túc, Tinh Thiều, Phạm Tu-tứ trụ triều đình Vạn Xuân. Không nên chờ (gần 35 năm nữa) đến những năm 2044-2045 để kỷ niệm 1500 năm của hàng loạt sự kiện: lập nước Vạn Xuân và dựng thành đầu tiên ở bờ nam sông Hồng, trên đất Long Đỗ cổ, ngày hy sinh của danh tướng Phạm Tu, đúng 100 năm ngày quốc khánh Việt Nam Dân chủ cộng hòa.
Nếu đúng Lý Phục Man là Phạm Tu thì chẳng lẽ đặt tên đường Phạm Tu rồi thì phải đổi tên đường Lý Phục Man? Còn nếu chứng minh là hai nhân vật riêng biệt thì lúc đó đặt thêm tên đường Lý Phục Man có muộn? Trong khi Tp. Hồ Chí Minh đã có tên đường Lý Phục Man từ rất lâu, còn gần đây các thành phố biển Nha Trang, Đà Nẵng đã đặt tên Phạm Tu cho một con phố nhỏ gần bờ biển.
Rõ ràng trong vấn đề này chính sử (văn kiện quốc gia) đang bị yếu thế trước thần phả (văn bản địa phương). Một số nhà nghiên cứu cho phép mình đánh giá tư liệu này tin cậy hơn tư liệu kia, nhưng khi hỏi tư liệu mà họ cho là tin cậy ấy bắt nguồn từ đâu thì họ cũng không trả lời được, hỏi xem có căn cứ nào cho việc đồng nhất không thì lại bảo là chính sử có ý viết như thế(?!). Chính sử đã viết thì ai còn phải bàn luận nhiều? Có phải vấn đề đồng nhất đã bị chi phối bởi tính chất địa phương, sự tranh chấp giữa những nhà nghiên cứu chưa vì lợi ích chung?
Tôi nhớ lại câu của TS. Nguyễn Nhã nói: "Như người ta đã nói: Cái gì của César thì phải trả lại cho César!" Do vậy nên cần bàn một số điểm chưa chính xác trong một bài nghiên cứu công phu của PGS. TS. Trương Sỹ Hùng mà ông cho là có cơ sở chứng minh Phạm Tu và Lý Phục Man chỉ là một người.
(a). Trích: "Theo chúng tôi, danh tướng Phạm Tu hay danh tướng, sau khi chết là danh thần Lý Phục Man chỉ là một người. Mỹ tự “Cảm ứng cư sĩ Phạm Tu, thụy Đô Hồ đại vương, thượng đẳng thần” (感應居士范修謚都湖大王尚等神) trong bản thần tích Phạm Tu ở Thanh Liệt có thể có sự nhầm lẫn. Bằng chứng chắc chắn là sinh thời Lý Nam đế chưa thể có sắc phong thần cho Phạm Tu, bởi lẽ nếu tướng Phạm Tu chết cùng Lý Nam đế ở động Khuất Liêu hay hy sinh ở cửa sông Tô Lịch thì ông còn chết sau vua;" (xem tr. 31)
Xem đoạn này thấy sự lầm lẫn của tác giả: "hay hy sinh ở cửa sông Tô Lịch thì ông còn chết sau vua;" Phạm Tu hy sinh năm 545, ở cửa sông Tô; Lý Bí mất năm 548 ở Khuất Liêu: Làm sao tác giả cho là Phạm Tu chết sau vua Lý Nam Đế?
(b). Trích: "còn khi người hiển thánh thì dân gian tìm mọi cách phù hợp kiêng gọi húy hiệu nên gọi Phạm Tu là thánh Giá, Thiên Nam thánh, thần Lý Phục Man. Hơn tất cả là tính danh do chính vua Lý Nam đế ban tặng, tính thiêng liêng lại gấp bội lần tăng." (xem tr. 33)
Ở đây phải thấy rõ “dân gian tìm” là các tên gọi xuất xứ từ nhân dân, đó là các tên gọi: Đỗ Động tướng quân, Lý Thái úy, Lý Phò mã, Lý tướng quân, thánh Giá,... Còn Lý Phục Man được cho là do vua Lý Nam Đế ban tặng, Thiên Nam thánh do Lý Thần Tông ban tặng. Nên ở câu trước cần loại hai tên gọi do vua ban mà thay vào các tên gọi có xuất xứ từ nhân dân nhằm tránh hiểu lầm ở câu ngay sát sau đó ca tụng tên Lý Phục Man. Vì đã nảy sinh mâu thuẫn giữa 2 câu này bởi "Phục Man" được cho là tên gọi từ thời Lý Nam Đế, do chính Lý Nam Đế ban tặng. Ý nghĩa của việc "Phục Man" là sự an huy của mọi vương triều. Chúng ta thấy các vương triều đều chuộng từ “Phục Man” nên tập trung sắc phong cho thần.
Lý Phục Man - tên gọi do Lý Nam Đế ban tặng, khởi đầu, khi còn sống, đúng giai đoạn lịch sử và ý nghĩa nhất, như các tên gọi các đồng chí "Trường-Kỳ-Kháng-Chiến-Nhất-Định-Thắng-Lợi" mà Bác Hồ đã đặt.
(c). Trích: "Sau đoạn văn trên là trọn vẹn câu chuyện kể cả tình tiết và văn phong, thể hiện là Đại Việt sử ký toàn thư dẫn lại trọn vẹn sách Việt điện u linh như đã dẫn đoạn trên. Lúc này danh tướng Phạm Tu dường như chỉ còn dấu ấn trong trang sử thời Tiền Lý, còn giờ đây tên ông được gọi là thần thiêng Lý Phục Man hay thánh Giá bởi người đã “thác về trời” từ gần 1000 năm trước." (tr. 24)
Đoạn này có nhiều mốc thời gian nên dễ nhầm lẫn: “Lúc này”, “thời Tiền Lý”, “còn giờ đây”, “đã thác về trời” và “từ gần 1000 năm trước” rất dễ làm người đọc hiểu sai và không xác định khoảng thời gian nào là gần 1000 năm.
(d). Trích: "Rõ ràng là nhân dân đã truyền thuyết hóa lịch sử, tìm mọi cách đề cao vị thành hoàng làng mình, gán cho thần những điều linh dị, sao cho hợp với phong thổ, địa danh mà họ đã và đang cư trú. Đời sau, nhiều thế hệ sau vua theo các quan trình nghị ý kiến của dân mà phê duyệt. Sự sai lạc tình tiết, ghép nhặt các mảnh truyện ly kỳ không mấy ai quan tâm, chỉ có các nhà nghiên cứu, chép sử băn khoăn khi có dịp cần xem xét." (xem tr. 32)
Có lẽ đây là tình trạng chung nên các thần phả đều phải đứng trên giai đoạn lịch sử đương thời mà xét. Xem Sự tích về Lý Phục Man để thấy rõ vấn đề này.
(e). Trích: "Triều đình hội kiến, ai cũng tâu vua rằng: “ - Ngoài Đỗ Động tướng quân, không ai có thể thắng được bọn giặc này!”" (xem tr. 25)
Năm 543, khi đánh Lâm Ấp, nhà nước Vạn Xuân chưa thành lập. Không có triều đình nào trước Vạn Xuân cả!
(g). Trích: "Loại bỏ dấu ấn của thuyết phong thủy (các gò đất mang danh long, ly, quy, phượng) thì chứng tích một thành Vạn Xuân hay cung điện sơ khai mà lại tồn tại chưa được 5 năm ở đây là đúng, bởi thế việc thờ vọng Phạm Tu ở Thanh Liệt là chính đáng. Đó là lẽ thứ hai khiến người đời không thể sao nhãng. Lẽ thứ ba, thần phả Phạm Đô Hồ đại vương Thanh Liệt xã (神譜笵都湖大王清列社) “sao lục tại đền Hùng Vương tỉnh Phú Thọ” năm 1934 không có tên người soạn thảo và ngày tháng ấn định văn bản nên độ tin cậy không cao." (xem tr. 31)
Cần xem xét:
1. Không có chuyện kinh đô Vạn Xuân lại ở ngay Thanh Liệt, mà tồn tại 5 năm e quá dài! Khi khởi nghĩa thành công, có lẽ ban đầu bộ chỉ huy nghĩa quân đóng trong thành Long Biên , sau đó có thể mới tập trung về phía nam sông Hồng rồi lập điện Vạn Thọ,...
2. Tài liệu cổ, thần phả ở các di tích có bao nhiêu bản ghi có xuất xứ rõ ràng nếu truy tận gốc tài liệu để học giả xưa soạn. Xin hãy xem lại các tư liệu ở Quán Giá trước khi kết luận tư liệu nào tin cậy.
(h). Trích: "Bằng chứng chắc chắn là sinh thời Lý Nam đế chưa thể có sắc phong thần cho Phạm Tu, bởi lẽ nếu tướng Phạm Tu chết cùng Lý Nam đế ở động Khuất Liêu hay hy sinh ở cửa sông Tô Lịch thì ông còn chết sau vua; thế thì mỹ tự Cảm ứng của Đô Hồ đại vương không bao giờ có là “Nam đế sắc vi” (南帝敕為) được." (xem tr. 31)
Chúng ta có thể tán thành quan điểm Lý Nam Đế không sắc phong thần cho Phạm Tu vì xét bối cảnh kháng chiến chống quân Lương, Lý Nam Đế không có thời gian, điều kiện để suy tôn Phạm Tu.
Còn "Nam đế sắc vi", nước Việt có bao nhiêu vị là Nam đế chứ đâu chỉ có một Lý Bí là Nam đế! "Nam quốc sơn hà, Nam đế cư" thì có Nhà nước Việt là có Nam đế, đời nào cũng vậy.
Việc sắc phong thường diễn ra khi giặc dã đã yên. Phù hợp nhất là vị Nam đế - Lý Phật Tử làm, do Phạm Tĩnh con Phạm Tu là Tướng quốc triều này - triều Hậu Lý Nam Đế (có chữ Hậu ở đầu) mà nhiều tài liệu vẫn chép là triều Lý Nam Đế.
(i). Trích: "Khi Phạm Tu được vua ban quốc tính tức là họ Lý và danh hiệu Phục Man, lại được vua gả công chúa ông trở thành phò mã. Lẽ thường theo “mệnh vua phép nước”, bản thân đương sự là Phạm Tu và “phận con dân” thuộc mọi tầng lớp xã hội, mọi lứa tuổi, mọi thế hệ người đời không thể trái mệnh vua, nên ngay từ lúc sinh thời tục danh Phạm Tu dần lui vào quá khứ." (xem tr. 23)
Thật kỳ lạ tại sao ở làng Giá tên tuổi Phạm Tu "lui vào quá khứ" mà chỉ biết đến Lý Phục Man từ thời Lý Thái Tổ. Mà trong khi chính sử (không dưới 2 cuốn sử) lại ghi chép được chính tác giả Trương Sỹ Hùng coi là "không phải là bất cẩn", và có ghi trong Việt điện u linh tập (không phải trong truyện Lý Phục Man).
Theo cuốn Tuyển tập Thần tích của Thăng Long-Hà Nội của Nxb. Hà Nội (chủ biên PGS. TS. Nguyễn Tá Nhí, PGS. TS. Nguyễn Văn Thịnh) trong nội dung viết về thần tích xã Yên Sở có nội dung Tồn nghi đề cập đến việc đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu. Nội dung này cho hay làng Giá hiện chỉ kiêng húy chữ “Man” chứ không kiêng húy chữ “Tu”. Từ đây chúng ta nhận ra: Rõ ràng tên húy của thần Lý Phục Man cũng không phải là Man nên kiêng húy là vô lý, kiêng tên gọi này chứng tỏ cả ngàn năm ở làng Giá không biết tên thật của Lý Phục Man và tên gọi Phạm Tu quả là xa lạ đối với mảnh đất này!
Bộ chính sử lớn của nước ta, cuốn Đại Việt sử ký toàn thư đã để lại những dòng ghi về vị tướng tài họ Phạm như sau:
“Mùa hạ, tháng 4 năm Quý Hợi (543) vua Lâm Ấp cướp quận Nhật Nam, vua sai tướng Phạm Tu đánh tan giặc ở quận Cửu Đức” và:
“Mùa Xuân, tháng Giêng năm Giáp Tý (544), vua lên ngôi, xưng là Nam Việt Đế, lấy niên hiệu là Thiên Đức, đặt trăm quan, dựng quốc hiệu là Vạn Xuân là ý mong xã tắc truyền đến muôn đời vậy. Dựng điện Vạn Thọ làm nơi triều hội. Lấy Triệu Túc làm Thái Phó, lấy Tinh Thiều, Phạm Tu làm tướng văn, tướng võ”.
Cuốn Việt Nam sử lược cũng viết:
“Qua năm Quý Hợi (543) quân Lâm Ấp lại sang quấy phá quận Nhật Nam, Lý Bôn sai tướng là Phạm Tu vào đánh ở Cửu Đức (Hà Tĩnh), người Lâm Ấp thua chạy về nước.”
Làm sao làng Giá lại bỏ quên đến mức sau 14 thế kỷ để đến nửa cuối thế kỷ XX mới cho Lý Phục Man là Phạm Tu, hay đúng hơn là đến khi có thông tin công bố trên sách báo là Phạm Tu quê ở Thanh Liệt, Thanh Trì? Phải chăng đó là sự suy luận, "tưởng tượng về thời xa xưa" chứ không hề có cơ sở để nói là "dần lui vào quá khứ"?
Lịch sử Việt Nam hiếm có người được phong quốc tính (một dạng khen thưởng đặc biệt) mà tên tuổi bị mai một. Bởi lẽ chính việc được ban quốc tính đã là một sự ca tụng nên lai lịch về nhân vật ấy càng rõ ràng hơn rất nhiều người cũng được ghi trong sử sách.
Những nhà viết sử thời Lý Trần đã biết về Phạm Tu nên thần phả nào có ghi tên ông đều đã được viết một cách cẩn thận. Đừng vì chủ quan, với ý muốn phủ nhận tư liệu khác mà cho "độ tin cậy không cao", nghe như tiếng súng lục “bắn... vào Quá khứ”?
(k). Trích: "Hiện có đến hàng chục bản thần tích viết về Lý Phục Man, nhưng cũng chỉ có vài bản có chi tiết cho biết Phạm Tu là tục danh của Lý Phục Man, còn năm bài văn khắc Hán Nôm trên bia đá ở Yên Sở và phần lớn các thần tích chỉ nói đến đại từ chung là đại vương hoặc cặp từ vinh danh thần." (xem tr. 28)
Tính chính xác của việc nêu “chỉ có vài bản” thần tích “có chi tiết cho biết Phạm Tu là tục danh của Lý Phục Man” cần được chỉ rõ ở bản thần tích nào, đoạn viết ấy cụ thể ra sao? Đây chính là cơ sở có thể đồng nhất mà sao tác giả lại không đi sâu để làm sáng tỏ vấn đề?
Giải thích về điều có thể đồng nhất và không thể đồng nhất:
Bản thân việc "Sự tích đức thánh Giá" xây dựng để vị thần sông Đáy là công thần hàng đầu thời Lý Nam Đế điều đó khiến nhiều điều rất giống với vị khai quốc công thần có thật trong lịch sử Tả tướng Phạm Tu. Đây là những điều khiến nếu chỉ xem qua có thể đồng nhất một cách dễ dàng. Bản thân việc đặt tên sự tích cho thấy sự thiếu cơ sở bởi đúng thì cứ gọi "Danh tướng Phạm Tu" là vững nhất, "vững như bàn thạch".
Tuy nhiên những mâu thuẫn phát sinh trong chính tư liệu về Lý Phục Man chứng tỏ trải dài 1000 năm, theo thời gian tư liệu bổ sung vào dồi dào nhưng không thể thống nhất. Đặc biệt khi thời nay cứ phải lái theo cho đúng đó là Phạm Tu và bởi không có cái gốc của sự thật nên có nhiều giả thuyết đã không thống nhất. Tuy nhiên không ai đưa ra lý do chứng minh tư liệu nào là thêm vào sai, tư liệu nào là gốc-đúng. Vì thực sự không ai có đủ tin tưởng là tư liệu mình đưa ra là đúng hoàn toàn? Đi phủ nhận tư liệu ở Thanh Liệt có lẽ không phải khi lại sử dụng thông tin về Phạm Tu ở đây để bổ sung cho Lý Phục Man (như việc Lý Phục Man mất ở cửa sông Tô). Thế lý luận này như đánh trận lên núi “cheo leo” quá?
Từ sự mâu thuẫn cho thấy tư liệu về Lý Phục Man hiện nay đang có tình trạng đúng sai lẫn lộn như thế làm sao có thể đồng nhất được? Đặc biệt những người lấy lẫn lộn tư liệu Lý Phục Man trẻ tuổi ghép (cơ học) cho Lão tướng Phạm Tu là việc làm của những nhà nghiên cứu là không khoa học vì không đưa ra được lý giải cho những mâu thuẫn.
Danh tướng Phạm Tu, người đứng đầu hàng võ của nhà nước Vạn Xuân là trụ cột triều đình Lý Nam Đế được thống nhất ghi trong sử sách. Một danh nhân không có ai có thể phủ nhận công lao của Tướng công đối với vùng đất Thủ đô dù đã trải qua 15 thế kỷ. Thế nhưng nghi vấn lịch sử lẽ ra phải xếp một bên để đặt tên đường phố mang tên ông. Cho dù có thể đặt tên của Tướng công thành tên một quận của Thủ đô (Chúng ta tin rằng Tướng công là một trong những vị thần thiêng nhất của Kinh đô, gắn với đất Long Đỗ) thế nhưng đến giữa năm 2010 này tên ông còn chưa được đặt cho một con đường nơi ông sinh ra, nơi ông ngã xuống và vẫn tiếp tục bảo vệ mảnh đất ấy theo chiều dài lịch sử của Đất nước. Việc chưa có tên đường Phạm Tu ở thủ đô là điều ngạc nhiên đối với những người biết về Phạm Tu trong đó có những nhà nghiên cứu của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Nhân dịp đại lễ 1000 năm Thăng Long, hãy đặt tên cho các con đường đẹp ở Thủ đô mang tên các danh nhân như Triệu Túc, Tinh Thiều, Phạm Tu-tứ trụ triều đình Vạn Xuân. Không nên chờ (gần 35 năm nữa) đến những năm 2044-2045 để kỷ niệm 1500 năm của hàng loạt sự kiện: lập nước Vạn Xuân và dựng thành đầu tiên ở bờ nam sông Hồng, trên đất Long Đỗ cổ, ngày hy sinh của danh tướng Phạm Tu, đúng 100 năm ngày quốc khánh Việt Nam Dân chủ cộng hòa.
Nếu đúng Lý Phục Man là Phạm Tu thì chẳng lẽ đặt tên đường Phạm Tu rồi thì phải đổi tên đường Lý Phục Man? Còn nếu chứng minh là hai nhân vật riêng biệt thì lúc đó đặt thêm tên đường Lý Phục Man có muộn? Trong khi Tp. Hồ Chí Minh đã có tên đường Lý Phục Man từ rất lâu, còn gần đây các thành phố biển Nha Trang, Đà Nẵng đã đặt tên Phạm Tu cho một con phố nhỏ gần bờ biển.
Rõ ràng trong vấn đề này chính sử (văn kiện quốc gia) đang bị yếu thế trước thần phả (văn bản địa phương). Một số nhà nghiên cứu cho phép mình đánh giá tư liệu này tin cậy hơn tư liệu kia, nhưng khi hỏi tư liệu mà họ cho là tin cậy ấy bắt nguồn từ đâu thì họ cũng không trả lời được, hỏi xem có căn cứ nào cho việc đồng nhất không thì lại bảo là chính sử có ý viết như thế(?!). Chính sử đã viết thì ai còn phải bàn luận nhiều? Có phải vấn đề đồng nhất đã bị chi phối bởi tính chất địa phương, sự tranh chấp giữa những nhà nghiên cứu chưa vì lợi ích chung?
Tôi nhớ lại câu của TS. Nguyễn Nhã nói: "Như người ta đã nói: Cái gì của César thì phải trả lại cho César!" Do vậy nên cần bàn một số điểm chưa chính xác trong một bài nghiên cứu công phu của PGS. TS. Trương Sỹ Hùng mà ông cho là có cơ sở chứng minh Phạm Tu và Lý Phục Man chỉ là một người.
(a). Trích: "Theo chúng tôi, danh tướng Phạm Tu hay danh tướng, sau khi chết là danh thần Lý Phục Man chỉ là một người. Mỹ tự “Cảm ứng cư sĩ Phạm Tu, thụy Đô Hồ đại vương, thượng đẳng thần” (感應居士范修謚都湖大王尚等神) trong bản thần tích Phạm Tu ở Thanh Liệt có thể có sự nhầm lẫn. Bằng chứng chắc chắn là sinh thời Lý Nam đế chưa thể có sắc phong thần cho Phạm Tu, bởi lẽ nếu tướng Phạm Tu chết cùng Lý Nam đế ở động Khuất Liêu hay hy sinh ở cửa sông Tô Lịch thì ông còn chết sau vua;" (xem tr. 31)
Xem đoạn này thấy sự lầm lẫn của tác giả: "hay hy sinh ở cửa sông Tô Lịch thì ông còn chết sau vua;" Phạm Tu hy sinh năm 545, ở cửa sông Tô; Lý Bí mất năm 548 ở Khuất Liêu: Làm sao tác giả cho là Phạm Tu chết sau vua Lý Nam Đế?
(b). Trích: "còn khi người hiển thánh thì dân gian tìm mọi cách phù hợp kiêng gọi húy hiệu nên gọi Phạm Tu là thánh Giá, Thiên Nam thánh, thần Lý Phục Man. Hơn tất cả là tính danh do chính vua Lý Nam đế ban tặng, tính thiêng liêng lại gấp bội lần tăng." (xem tr. 33)
Ở đây phải thấy rõ “dân gian tìm” là các tên gọi xuất xứ từ nhân dân, đó là các tên gọi: Đỗ Động tướng quân, Lý Thái úy, Lý Phò mã, Lý tướng quân, thánh Giá,... Còn Lý Phục Man được cho là do vua Lý Nam Đế ban tặng, Thiên Nam thánh do Lý Thần Tông ban tặng. Nên ở câu trước cần loại hai tên gọi do vua ban mà thay vào các tên gọi có xuất xứ từ nhân dân nhằm tránh hiểu lầm ở câu ngay sát sau đó ca tụng tên Lý Phục Man. Vì đã nảy sinh mâu thuẫn giữa 2 câu này bởi "Phục Man" được cho là tên gọi từ thời Lý Nam Đế, do chính Lý Nam Đế ban tặng. Ý nghĩa của việc "Phục Man" là sự an huy của mọi vương triều. Chúng ta thấy các vương triều đều chuộng từ “Phục Man” nên tập trung sắc phong cho thần.
Lý Phục Man - tên gọi do Lý Nam Đế ban tặng, khởi đầu, khi còn sống, đúng giai đoạn lịch sử và ý nghĩa nhất, như các tên gọi các đồng chí "Trường-Kỳ-Kháng-Chiến-Nhất-Định-Thắng-Lợi" mà Bác Hồ đã đặt.
(c). Trích: "Sau đoạn văn trên là trọn vẹn câu chuyện kể cả tình tiết và văn phong, thể hiện là Đại Việt sử ký toàn thư dẫn lại trọn vẹn sách Việt điện u linh như đã dẫn đoạn trên. Lúc này danh tướng Phạm Tu dường như chỉ còn dấu ấn trong trang sử thời Tiền Lý, còn giờ đây tên ông được gọi là thần thiêng Lý Phục Man hay thánh Giá bởi người đã “thác về trời” từ gần 1000 năm trước." (tr. 24)
Đoạn này có nhiều mốc thời gian nên dễ nhầm lẫn: “Lúc này”, “thời Tiền Lý”, “còn giờ đây”, “đã thác về trời” và “từ gần 1000 năm trước” rất dễ làm người đọc hiểu sai và không xác định khoảng thời gian nào là gần 1000 năm.
(d). Trích: "Rõ ràng là nhân dân đã truyền thuyết hóa lịch sử, tìm mọi cách đề cao vị thành hoàng làng mình, gán cho thần những điều linh dị, sao cho hợp với phong thổ, địa danh mà họ đã và đang cư trú. Đời sau, nhiều thế hệ sau vua theo các quan trình nghị ý kiến của dân mà phê duyệt. Sự sai lạc tình tiết, ghép nhặt các mảnh truyện ly kỳ không mấy ai quan tâm, chỉ có các nhà nghiên cứu, chép sử băn khoăn khi có dịp cần xem xét." (xem tr. 32)
Có lẽ đây là tình trạng chung nên các thần phả đều phải đứng trên giai đoạn lịch sử đương thời mà xét. Xem Sự tích về Lý Phục Man để thấy rõ vấn đề này.
(e). Trích: "Triều đình hội kiến, ai cũng tâu vua rằng: “ - Ngoài Đỗ Động tướng quân, không ai có thể thắng được bọn giặc này!”" (xem tr. 25)
Năm 543, khi đánh Lâm Ấp, nhà nước Vạn Xuân chưa thành lập. Không có triều đình nào trước Vạn Xuân cả!
(g). Trích: "Loại bỏ dấu ấn của thuyết phong thủy (các gò đất mang danh long, ly, quy, phượng) thì chứng tích một thành Vạn Xuân hay cung điện sơ khai mà lại tồn tại chưa được 5 năm ở đây là đúng, bởi thế việc thờ vọng Phạm Tu ở Thanh Liệt là chính đáng. Đó là lẽ thứ hai khiến người đời không thể sao nhãng. Lẽ thứ ba, thần phả Phạm Đô Hồ đại vương Thanh Liệt xã (神譜笵都湖大王清列社) “sao lục tại đền Hùng Vương tỉnh Phú Thọ” năm 1934 không có tên người soạn thảo và ngày tháng ấn định văn bản nên độ tin cậy không cao." (xem tr. 31)
Cần xem xét:
1. Không có chuyện kinh đô Vạn Xuân lại ở ngay Thanh Liệt, mà tồn tại 5 năm e quá dài! Khi khởi nghĩa thành công, có lẽ ban đầu bộ chỉ huy nghĩa quân đóng trong thành Long Biên , sau đó có thể mới tập trung về phía nam sông Hồng rồi lập điện Vạn Thọ,...
2. Tài liệu cổ, thần phả ở các di tích có bao nhiêu bản ghi có xuất xứ rõ ràng nếu truy tận gốc tài liệu để học giả xưa soạn. Xin hãy xem lại các tư liệu ở Quán Giá trước khi kết luận tư liệu nào tin cậy.
(h). Trích: "Bằng chứng chắc chắn là sinh thời Lý Nam đế chưa thể có sắc phong thần cho Phạm Tu, bởi lẽ nếu tướng Phạm Tu chết cùng Lý Nam đế ở động Khuất Liêu hay hy sinh ở cửa sông Tô Lịch thì ông còn chết sau vua; thế thì mỹ tự Cảm ứng của Đô Hồ đại vương không bao giờ có là “Nam đế sắc vi” (南帝敕為) được." (xem tr. 31)
Chúng ta có thể tán thành quan điểm Lý Nam Đế không sắc phong thần cho Phạm Tu vì xét bối cảnh kháng chiến chống quân Lương, Lý Nam Đế không có thời gian, điều kiện để suy tôn Phạm Tu.
Còn "Nam đế sắc vi", nước Việt có bao nhiêu vị là Nam đế chứ đâu chỉ có một Lý Bí là Nam đế! "Nam quốc sơn hà, Nam đế cư" thì có Nhà nước Việt là có Nam đế, đời nào cũng vậy.
Việc sắc phong thường diễn ra khi giặc dã đã yên. Phù hợp nhất là vị Nam đế - Lý Phật Tử làm, do Phạm Tĩnh con Phạm Tu là Tướng quốc triều này - triều Hậu Lý Nam Đế (có chữ Hậu ở đầu) mà nhiều tài liệu vẫn chép là triều Lý Nam Đế.
(i). Trích: "Khi Phạm Tu được vua ban quốc tính tức là họ Lý và danh hiệu Phục Man, lại được vua gả công chúa ông trở thành phò mã. Lẽ thường theo “mệnh vua phép nước”, bản thân đương sự là Phạm Tu và “phận con dân” thuộc mọi tầng lớp xã hội, mọi lứa tuổi, mọi thế hệ người đời không thể trái mệnh vua, nên ngay từ lúc sinh thời tục danh Phạm Tu dần lui vào quá khứ." (xem tr. 23)
Thật kỳ lạ tại sao ở làng Giá tên tuổi Phạm Tu "lui vào quá khứ" mà chỉ biết đến Lý Phục Man từ thời Lý Thái Tổ. Mà trong khi chính sử (không dưới 2 cuốn sử) lại ghi chép được chính tác giả Trương Sỹ Hùng coi là "không phải là bất cẩn", và có ghi trong Việt điện u linh tập (không phải trong truyện Lý Phục Man).
Theo cuốn Tuyển tập Thần tích của Thăng Long-Hà Nội của Nxb. Hà Nội (chủ biên PGS. TS. Nguyễn Tá Nhí, PGS. TS. Nguyễn Văn Thịnh) trong nội dung viết về thần tích xã Yên Sở có nội dung Tồn nghi đề cập đến việc đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu. Nội dung này cho hay làng Giá hiện chỉ kiêng húy chữ “Man” chứ không kiêng húy chữ “Tu”. Từ đây chúng ta nhận ra: Rõ ràng tên húy của thần Lý Phục Man cũng không phải là Man nên kiêng húy là vô lý, kiêng tên gọi này chứng tỏ cả ngàn năm ở làng Giá không biết tên thật của Lý Phục Man và tên gọi Phạm Tu quả là xa lạ đối với mảnh đất này!
Bộ chính sử lớn của nước ta, cuốn Đại Việt sử ký toàn thư đã để lại những dòng ghi về vị tướng tài họ Phạm như sau:
“Mùa hạ, tháng 4 năm Quý Hợi (543) vua Lâm Ấp cướp quận Nhật Nam, vua sai tướng Phạm Tu đánh tan giặc ở quận Cửu Đức” và:
“Mùa Xuân, tháng Giêng năm Giáp Tý (544), vua lên ngôi, xưng là Nam Việt Đế, lấy niên hiệu là Thiên Đức, đặt trăm quan, dựng quốc hiệu là Vạn Xuân là ý mong xã tắc truyền đến muôn đời vậy. Dựng điện Vạn Thọ làm nơi triều hội. Lấy Triệu Túc làm Thái Phó, lấy Tinh Thiều, Phạm Tu làm tướng văn, tướng võ”.
Cuốn Việt Nam sử lược cũng viết:
“Qua năm Quý Hợi (543) quân Lâm Ấp lại sang quấy phá quận Nhật Nam, Lý Bôn sai tướng là Phạm Tu vào đánh ở Cửu Đức (Hà Tĩnh), người Lâm Ấp thua chạy về nước.”
Làm sao làng Giá lại bỏ quên đến mức sau 14 thế kỷ để đến nửa cuối thế kỷ XX mới cho Lý Phục Man là Phạm Tu, hay đúng hơn là đến khi có thông tin công bố trên sách báo là Phạm Tu quê ở Thanh Liệt, Thanh Trì? Phải chăng đó là sự suy luận, "tưởng tượng về thời xa xưa" chứ không hề có cơ sở để nói là "dần lui vào quá khứ"?
Lịch sử Việt Nam hiếm có người được phong quốc tính (một dạng khen thưởng đặc biệt) mà tên tuổi bị mai một. Bởi lẽ chính việc được ban quốc tính đã là một sự ca tụng nên lai lịch về nhân vật ấy càng rõ ràng hơn rất nhiều người cũng được ghi trong sử sách.
Những nhà viết sử thời Lý Trần đã biết về Phạm Tu nên thần phả nào có ghi tên ông đều đã được viết một cách cẩn thận. Đừng vì chủ quan, với ý muốn phủ nhận tư liệu khác mà cho "độ tin cậy không cao", nghe như tiếng súng lục “bắn... vào Quá khứ”?
(k). Trích: "Hiện có đến hàng chục bản thần tích viết về Lý Phục Man, nhưng cũng chỉ có vài bản có chi tiết cho biết Phạm Tu là tục danh của Lý Phục Man, còn năm bài văn khắc Hán Nôm trên bia đá ở Yên Sở và phần lớn các thần tích chỉ nói đến đại từ chung là đại vương hoặc cặp từ vinh danh thần." (xem tr. 28)
Tính chính xác của việc nêu “chỉ có vài bản” thần tích “có chi tiết cho biết Phạm Tu là tục danh của Lý Phục Man” cần được chỉ rõ ở bản thần tích nào, đoạn viết ấy cụ thể ra sao? Đây chính là cơ sở có thể đồng nhất mà sao tác giả lại không đi sâu để làm sáng tỏ vấn đề?
Giải thích về điều có thể đồng nhất và không thể đồng nhất:
Bản thân việc "Sự tích đức thánh Giá" xây dựng để vị thần sông Đáy là công thần hàng đầu thời Lý Nam Đế điều đó khiến nhiều điều rất giống với vị khai quốc công thần có thật trong lịch sử Tả tướng Phạm Tu. Đây là những điều khiến nếu chỉ xem qua có thể đồng nhất một cách dễ dàng. Bản thân việc đặt tên sự tích cho thấy sự thiếu cơ sở bởi đúng thì cứ gọi "Danh tướng Phạm Tu" là vững nhất, "vững như bàn thạch".
Tuy nhiên những mâu thuẫn phát sinh trong chính tư liệu về Lý Phục Man chứng tỏ trải dài 1000 năm, theo thời gian tư liệu bổ sung vào dồi dào nhưng không thể thống nhất. Đặc biệt khi thời nay cứ phải lái theo cho đúng đó là Phạm Tu và bởi không có cái gốc của sự thật nên có nhiều giả thuyết đã không thống nhất. Tuy nhiên không ai đưa ra lý do chứng minh tư liệu nào là thêm vào sai, tư liệu nào là gốc-đúng. Vì thực sự không ai có đủ tin tưởng là tư liệu mình đưa ra là đúng hoàn toàn? Đi phủ nhận tư liệu ở Thanh Liệt có lẽ không phải khi lại sử dụng thông tin về Phạm Tu ở đây để bổ sung cho Lý Phục Man (như việc Lý Phục Man mất ở cửa sông Tô). Thế lý luận này như đánh trận lên núi “cheo leo” quá?
Từ sự mâu thuẫn cho thấy tư liệu về Lý Phục Man hiện nay đang có tình trạng đúng sai lẫn lộn như thế làm sao có thể đồng nhất được? Đặc biệt những người lấy lẫn lộn tư liệu Lý Phục Man trẻ tuổi ghép (cơ học) cho Lão tướng Phạm Tu là việc làm của những nhà nghiên cứu là không khoa học vì không đưa ra được lý giải cho những mâu thuẫn.
Nhãn:
Đi tìm cơ sở,
Tháp Bút
SỰ TÍCH VỀ LÝ PHỤC MAN NHỮNG ĐIỀU KHÓ ĐỨNG VỮNG TRONG CUỘC SỐNG VÀ TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC
Ngày 04. 10. 2009
Vị thần Lý Phục Man của làng Cổ Sở xuất hiện trong giấc mộng của Lý Thái Tổ vào năm 1016, theo tư liệu ở Quán Giá thì Lý Phục Man mất năm 548 ở động Khuất Liêu. Như vậy sau 468 năm tính từ ngày mất, Lý tướng công mới xuất hiện và xưng là thần người Cổ Sở vốn quản vùng Đỗ Động, Đường Lâm khi chết vẫn cai quản vùng này. Căn cứ vào nội dung trong Toàn thư có thể thấy trong dân gian bấy giờ không có thông tin về lúc sinh thời của vị thần, nếu không đã có ghi rõ hơn về Lý Phục Man như việc vua quan bấy giờ sẽ hỏi người địa phương và lưu lại thông tin về Lý tướng công có căn cứ hơn. Qua giấc mộng của vua cho thấy chỉ có thông tin về thần:
- Người làng Cổ Sở
- Họ Lý, tên là Phục Man
- Là võ tướng của Lý Nam Đế quản vùng Đỗ Động, Đường Lâm
Chỉ có thông tin ngắn gọn như vậy, dựa theo thời kỳ lịch sử lập nước Vạn Xuân người đời sau bổ sung thông tin cho phù hợp để có sự tích về thần Cổ Sở.
Ngày nay thông tin về thần Lý Phục Man thật dồi dào, đáng nể. Người viết blog NLG đã công phu thu thập thông tin xưa đến nay để tôn vinh thần Lý Phục Man, đặc biệt ông còn cho là Lý Phục Man chính là nhân vật lịch sử Phạm Tu đứng đầu ban Võ nhà nước Vạn Xuân. Nay xin trình bày những vấn đề chưa phù hợp trong tư liệu về “Sự tích Tướng công Lý Phục Man”: (xem tr. 13)
1. Đánh trận cờ lá chuối
Sự tích lưu ở Quán Giá: “Bằng cờ chuối bông lau, cậu cùng các bạn nhỏ trong xóm chia thành quân ta quân địch dàn trận để dành thắng bại.”
NLG: “Chàng thiếu niên nghèo nhưng đã có sức khỏe hơn người, ngày ngày đi chăn trâu cắt cỏ, thường cùng chúng bạn chia quân đánh trận, lấy tàu lá chuối làm cờ.”
Những người yêu lịch sử Việt Nam, ai cũng biết về câu chuyện trẻ tập trận dùng cờ bông lau, chuyện viết để tôn vinh chí lớn của Đinh Bộ Lĩnh ngay từ khi còn nhỏ. Lau sậy cũng cho ta nhớ đến quân của Triệu Quang Phục ở đầm Dạ Trạch ở ngay sau thời Lý Nam Đế. Thế kỷ 19 còn có khởi nghĩa Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật.
Nhưng phải xét nếu dùng bông lau làm cờ trong khi tập trận sẽ ra sao?
Khi trẻ tập trận sẽ là hoạt động sôi nổi có khi giục đàn trâu phi, có khi nhảy xuống đất chạy xông xáo giữa gò bãi cây cối. Để tạo hoạt động hùng dũng nhanh nhẹn. Khi đó bông lau sẽ không xòe như cây phất trần bình thường, bông lau sẽ như hình ngọn cờ trước gió mạnh. Thật dũng mãnh và khí thế với vài chục đứa trẻ tay thì cầm bông lau giơ cao như cờ, tay thì cầm roi gậy như gươm đao. Cành lau tròn cứng chắc ít bị gãy khi bọn trẻ “xung trận”.
Nếu dùng “tàu lá chuối làm cờ”, chúng ta nhận thấy phần cán cờ lá chuối vốn rất ngắn, sống tàu lá thon nhỏ dần về ngọn; sống lá không tròn đều cứng chắc mà là các khoang hộp rỗng rất dễ gẫy gập; lá thì hai cánh rộng và dài rất dễ rách. Tàu lá chuối chặt ra không thể để thế làm cờ luôn được. Rọc bỏ một bên lá, rọc bớt quá nửa cho thành cán và lá cờ. Nhưng khi trẻ xung trận thì có lẽ phải cầm hai tay và phải gượng nhẹ cho cuống lá khỏi gãy. Nhưng phần lá trên cuống thì chẳng thể tạo được khí thế lá cờ trước gió khi xung trận. Ngoài ra có thể dùng tay không bẻ cành lau rất mau lẹ, còn lấy lá chuối bằng tay không thì chỉ được những mảnh lá không thể có cuống nguyên vẹn.
2. Sự tích lưu ở Quán Giá: “Vốn có sức khỏe và lòng dũng cảm, chàng trai họ Phạm đã thuần hóa được hàng chục voi rừng, biến chúng thành đội quân để sau ra trận.”
Đây là thông tin khá mới về “đội tượng binh” thời Tiền Lý. Chúng ta cũng nhận thấy thời đó Lý Nam Đế và cả quân Lương cũng dùng thủy binh là chính. Nếu phát hiện có đội tượng binh thì cần bổ sung thông tin cho những trang sử về nhà nước Vạn Xuân. Chúng ta thấy câu ghi trong Sự tích cũ: “Thưở nhỏ, Đại Vương phong tư hơn người, tài nghệ xuất chúng, nhất là cỡi ngựa bắn cung lại là sở trường, rất có uy đức, sức mạnh voi cũng chịu thua;” (xem tr. 57) ví sức của Lý Phục Man mạnh hơn sức voi là phù hợp.
3. Sự tích lưu ở Quán Giá: “Đặc biệt trong trận đánh quân Lâm Ấp (tức Chiêm Thành) khi chúng vào xâm lấn Cửu Đức mùa thu năm Quý Hợi (543).”
Trong khi đó Toàn thư ghi việc Phạm Tu đánh quân Lâm Ấp:
“Quý Hợi, năm thứ 3 (543), mùa hạ, tháng Tư, vua Lâm Ấp cướp quận Nhật Nam, vua (Lý Nam Đế) sai tướng là Phạm Tu đánh tan ở quận Cửu Đức.
Sai khác thời gian quá xa với chính sử về một sự kiện: mùa hạ, tháng 4 cách mùa thu ít nhất là 3 tháng. Như vậy mùa thu cũng là khi Phạm Tu đã thu quân về, có phải lúc đó Lý Bí cử Lý Phục Man ở phương Nam để “trấn thủ cõi xa” như trong “Thiên Nam ngữ lục”?
4. Sự tích lưu ở Quán Giá: “Biết ta còn phải lo bao việc trong dựng nước, bọn vua quan Lâm Ấp đã thừa cơ vào xâm lấn bờ cõi phía Nam. Tin cấp báo về đến Lý Bôn và các bạn chiến đấu của ông. Mọi người đều nói: “Với kẻ thù hung hãn như vậy phi Đỗ Động tướng quân không ai có thể đương đầu với giặc này”. Tin vào khả năng xuất chúng của người tướng trẻ, Lý Bôn đã nghe theo lời bàn cử tướng Phạm Tu vào Nam dẹp giặc.”
Cần lưu ý Lý Bí đã từng làm quan ở Cửu Đức, ông biết địch biết ta. Khó có cuộc “triều hội” tập hợp trăm quan để mọi người cho ý kiến. Có thể Lý Bí là người quyết định mau lẹ, cấp tốc cử Phạm Tu đem quân vào Cửu Đức.
5. Sự tích lưu ở Quán Giá: «Nghe tin thắng trận báo về Lý Bôn đã hết lời khen ngợi. Ông nói: “Tre già mới biết dao sắc, có gặp lúc nguy nan mới biết người tài giỏi. Nay Đỗ Động tướng quân bắn vài tên mà phá tan quân giặc dữ, thật là một hào kiệt đất Sơn Tây, dẫu bậc danh tướng đời xưa cũng không hơn được, cần phải trọng thưởng”.»
Qua câu nói của Lý Bí, xem ra lúc đó mới biết tài của Lý Phục Man. Nhưng quân Lâm Ấp đâu có quá mạnh để Lý Bí ca tụng như vậy. Hơn nữa địa danh “Sơn Tây” lại dùng quá sớm (tên gọi thời Lê nên sớm đến nghìn năm), không lấy “Đỗ Động, Đường Lâm” cho hợp thời cuộc hơn. Vừa mới gọi Lý Phục Man là “Đỗ Động tướng quân”.
6. Sự tích lưu ở Quán Giá: “Là người có nhiều công lớn phò mã Phạm Tu được vua phong cho chức Thái Úy đứng đầu ban võ.”
Có phải Lý Bí phong cho Lý Phục Man là Thái Úy? Trong chính sử, đến thời Lê Đại Hành mới thấy Phạm Cự Lượng (944-?) được phong Thái Úy năm 986!
7. Sự tích lưu ở Quán Giá: “Đầu năm Ất Sửu (545), bọn phong kiến nhà Lương lại sai Trần Bá Tiên mang quân sang hòng đặt ách đô hộ nước ta một lần nữa. Trận thử sức đầu tiên với đội quân xâm lược ở thành Chu Diên (Hải Hưng), quân ta bị thua. Biết chưa đủ sức triều đình nhà Lý đành phải lui quân về sông Tô Lịch xây đắp thành lũy (Hà Nội) để giữ thế thủ. Để bảo toàn lực lượng đánh địch lâu dài, vua Lý bèn cử Phục Man tướng công Phạm Tu ở lại giữ thành. Còn nhà vua đem triều đình về Khuất Liêu.
Chỉ qua mấy tháng, mùa thu năm Ất Sửu (545) tướng giặc Trần Bá Tiên lại đem quân đến vây đánh thành Tô Lịch. Trong một trận giao tranh với Trần Bá Tiên, tướng công đã anh dũng hy sinh tại trận tiền. Hai tùy tướng họ Trương đã mang được thi hài về quê an táng tại khu Hồ Mã.”
Đoạn trích trên viết không theo dòng chảy lịch sử mà chỉ viết những điểm mốc lịch sử gây nên sai sót về lịch sử:
Toàn thư ghi: “Ất Sửu, [Thiên Đức] năm thứ 2 [545], (Lương Đại Đồng năm thứ 11). Mùa hạ, tháng 6, nhà Lương cho Dương Thiêu làm Thứ sử Giao Châu, Trần Bá Tiên làm Tư mã, đem quân sang xâm, sai Thứ sử Định Châu là Tiêu Bột hội với bọn Thiêu ở Giang Tây”
Mùa hè, tháng sáu năm Ất Sửu (545), Lý Bí cầm quân cự giặc ở Chu Diên bị thua. Quân ta rút thì Trần Bá Tiên đuổi theo ngay. Chống giặc quyết liệt ở chiến thành sông Tô được chừng một tháng: ngày 20 tháng 7 tướng quân Phạm Tu hy sinh. Như vậy có thể đã cầm cự với giặc khoảng từ 1-2 tháng ở cửa sông Tô.
Có thể việc đắp thành cửa sông Tô là một kế hoạch phòng thủ đã được chuẩn bị trước. Thấy rõ thế giặc khi đem quân chống giặc ở Chu Diên, Lý Bí đốc thúc về kinh hoàn thành phòng tuyến quan trọng ở cửa sông Tô. Ngay mùa hè 545, quân ta vừa thua ở Chu Diên, giặc đã dồn toàn sức hướng về kinh đô Vạn Xuân tấn công đến thành cửa sông Tô do Phạm Tu chỉ huy. Giặc đã bị chặn lại, Lý Bí đưa bộ máy chính quyền non trẻ rút về vùng trung du củng cố lực lượng.
Theo Sự tích: “đầu năm… sai Trần Bá Tiên mang quân sang” dễ hiểu lầm là Lý Bí chống giặc từ đầu năm vì có nối tiếp ở đoạn ngay sau “chỉ qua mấy tháng, mùa thu”. Không lẽ để Lý Bí rút, cho đắp thành cửa sông Tô Lịch xong, đợi đến mùa thu, Trần Bá Tiên mới kéo quân đến đánh? Trong phép dùng binh, không ai làm vậy!
Rồi Sự tích đã bỏ qua mất việc Lý Bí chống giặc ở Gia Ninh, tập hợp quân ở hồ Điển Triệt. Không thể viết ngay thế này được “... Phạm Tu ở lại giữ thành. Còn nhà vua đem triều đình về Khuất Liêu.”
Về cái chết của Lý Phục Man ở thành cửa sông Tô Lịch là bổ sung quá mới, không có ghi trong bất kỳ một sự tích nào về Lý Phục Man đã lưu truyền trước đây. Không có trong văn bia, trong các câu đối ở Quán Giá. Đó chính là những thông tin về Phạm Tu người Thanh Liệt được bổ sung vào cho Sự tích mới này.
8. Sự tích lưu ở Quán Giá: “Kể từ khi đất nước dành được quyền tự chủ, các vương triều xưa như Tiền Lê, Hậu Lý, Hậu Lê, Mạc, Lê Trung Hưng, Nguyễn Tây Sơn và Nguyễn đã phong tặng tới 60 đạo sắc gồm gần 300 chữ đẹp. Đó chính là sự đánh giá của lịch sử và nhân dân về công lao sự nghiệp của tướng công vậy.”
Toàn thư có ghi việc: Năm 1016, Lý Thái Tổ mới cho xây đền, đắp tượng Lý Phục Man. Không rõ trước đó nhà Tiền Lê sắc phong cho thần như thế nào khi mà trước khi gặp Lý Thái Tổ, Thần vẫn còn ẩn danh? Trong Sự tích còn khẳng định có 74 nơi thờ Lý Phục Man, nhưng trước đó chưa vượt con số 72, như vậy đã có bổ sung thêm Đình Ngoại (Thanh Trì) và Đình Than (Quốc Oai) thờ Phạm Tu, những ông thủ từ trông coi hai đình này đều khẳng định tư liệu ở đó không có căn cứ cho rằng Phạm Tu là Lý Phục Man.
Tóm lại: Viết sự tích về một nhân vật lịch sử cần đúng với lịch sử thời đó và phù hợp với cuộc sống đời thường, việc hư cấu trong Sự tích đã mất tác dụng tôn vinh vị thần Lý Phục Man. Càng cố gắng hư cấu càng làm cho nhân vật chính trong Sự tích không thể là một nhân vật lịch sử, lại càng không thể lấy đó làm sử liệu để đồng nhất với Phạm Tu. Cần lược bớt những điều không phù hợp, bằng không vị thần ấy không phải là nhân thần. Bản thân việc Thần kể công đánh giặc như trong Việt điện u linh tập cho thấy việc hư cấu đã không vượt lên đời thường khác hẳn với vị Đô Hồ Đại vương mà ông thủ từ ở Đình Ngoại nhận xét khi tổng kết từ các hoạt động tâm linh liên quan: “Ngài không bao giờ kể công”. Từ Sự tích cho thấy tướng quân Lý Phục Man phần nhiều vẫn sống trong tưởng tượng từ thời Lý Thái Tổ đến nay.
Vị thần Lý Phục Man của làng Cổ Sở xuất hiện trong giấc mộng của Lý Thái Tổ vào năm 1016, theo tư liệu ở Quán Giá thì Lý Phục Man mất năm 548 ở động Khuất Liêu. Như vậy sau 468 năm tính từ ngày mất, Lý tướng công mới xuất hiện và xưng là thần người Cổ Sở vốn quản vùng Đỗ Động, Đường Lâm khi chết vẫn cai quản vùng này. Căn cứ vào nội dung trong Toàn thư có thể thấy trong dân gian bấy giờ không có thông tin về lúc sinh thời của vị thần, nếu không đã có ghi rõ hơn về Lý Phục Man như việc vua quan bấy giờ sẽ hỏi người địa phương và lưu lại thông tin về Lý tướng công có căn cứ hơn. Qua giấc mộng của vua cho thấy chỉ có thông tin về thần:
- Người làng Cổ Sở
- Họ Lý, tên là Phục Man
- Là võ tướng của Lý Nam Đế quản vùng Đỗ Động, Đường Lâm
Chỉ có thông tin ngắn gọn như vậy, dựa theo thời kỳ lịch sử lập nước Vạn Xuân người đời sau bổ sung thông tin cho phù hợp để có sự tích về thần Cổ Sở.
Ngày nay thông tin về thần Lý Phục Man thật dồi dào, đáng nể. Người viết blog NLG đã công phu thu thập thông tin xưa đến nay để tôn vinh thần Lý Phục Man, đặc biệt ông còn cho là Lý Phục Man chính là nhân vật lịch sử Phạm Tu đứng đầu ban Võ nhà nước Vạn Xuân. Nay xin trình bày những vấn đề chưa phù hợp trong tư liệu về “Sự tích Tướng công Lý Phục Man”: (xem tr. 13)
1. Đánh trận cờ lá chuối
Sự tích lưu ở Quán Giá: “Bằng cờ chuối bông lau, cậu cùng các bạn nhỏ trong xóm chia thành quân ta quân địch dàn trận để dành thắng bại.”
NLG: “Chàng thiếu niên nghèo nhưng đã có sức khỏe hơn người, ngày ngày đi chăn trâu cắt cỏ, thường cùng chúng bạn chia quân đánh trận, lấy tàu lá chuối làm cờ.”
Những người yêu lịch sử Việt Nam, ai cũng biết về câu chuyện trẻ tập trận dùng cờ bông lau, chuyện viết để tôn vinh chí lớn của Đinh Bộ Lĩnh ngay từ khi còn nhỏ. Lau sậy cũng cho ta nhớ đến quân của Triệu Quang Phục ở đầm Dạ Trạch ở ngay sau thời Lý Nam Đế. Thế kỷ 19 còn có khởi nghĩa Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật.
Nhưng phải xét nếu dùng bông lau làm cờ trong khi tập trận sẽ ra sao?
Khi trẻ tập trận sẽ là hoạt động sôi nổi có khi giục đàn trâu phi, có khi nhảy xuống đất chạy xông xáo giữa gò bãi cây cối. Để tạo hoạt động hùng dũng nhanh nhẹn. Khi đó bông lau sẽ không xòe như cây phất trần bình thường, bông lau sẽ như hình ngọn cờ trước gió mạnh. Thật dũng mãnh và khí thế với vài chục đứa trẻ tay thì cầm bông lau giơ cao như cờ, tay thì cầm roi gậy như gươm đao. Cành lau tròn cứng chắc ít bị gãy khi bọn trẻ “xung trận”.
Nếu dùng “tàu lá chuối làm cờ”, chúng ta nhận thấy phần cán cờ lá chuối vốn rất ngắn, sống tàu lá thon nhỏ dần về ngọn; sống lá không tròn đều cứng chắc mà là các khoang hộp rỗng rất dễ gẫy gập; lá thì hai cánh rộng và dài rất dễ rách. Tàu lá chuối chặt ra không thể để thế làm cờ luôn được. Rọc bỏ một bên lá, rọc bớt quá nửa cho thành cán và lá cờ. Nhưng khi trẻ xung trận thì có lẽ phải cầm hai tay và phải gượng nhẹ cho cuống lá khỏi gãy. Nhưng phần lá trên cuống thì chẳng thể tạo được khí thế lá cờ trước gió khi xung trận. Ngoài ra có thể dùng tay không bẻ cành lau rất mau lẹ, còn lấy lá chuối bằng tay không thì chỉ được những mảnh lá không thể có cuống nguyên vẹn.
2. Sự tích lưu ở Quán Giá: “Vốn có sức khỏe và lòng dũng cảm, chàng trai họ Phạm đã thuần hóa được hàng chục voi rừng, biến chúng thành đội quân để sau ra trận.”
Đây là thông tin khá mới về “đội tượng binh” thời Tiền Lý. Chúng ta cũng nhận thấy thời đó Lý Nam Đế và cả quân Lương cũng dùng thủy binh là chính. Nếu phát hiện có đội tượng binh thì cần bổ sung thông tin cho những trang sử về nhà nước Vạn Xuân. Chúng ta thấy câu ghi trong Sự tích cũ: “Thưở nhỏ, Đại Vương phong tư hơn người, tài nghệ xuất chúng, nhất là cỡi ngựa bắn cung lại là sở trường, rất có uy đức, sức mạnh voi cũng chịu thua;” (xem tr. 57) ví sức của Lý Phục Man mạnh hơn sức voi là phù hợp.
3. Sự tích lưu ở Quán Giá: “Đặc biệt trong trận đánh quân Lâm Ấp (tức Chiêm Thành) khi chúng vào xâm lấn Cửu Đức mùa thu năm Quý Hợi (543).”
Trong khi đó Toàn thư ghi việc Phạm Tu đánh quân Lâm Ấp:
“Quý Hợi, năm thứ 3 (543), mùa hạ, tháng Tư, vua Lâm Ấp cướp quận Nhật Nam, vua (Lý Nam Đế) sai tướng là Phạm Tu đánh tan ở quận Cửu Đức.
Sai khác thời gian quá xa với chính sử về một sự kiện: mùa hạ, tháng 4 cách mùa thu ít nhất là 3 tháng. Như vậy mùa thu cũng là khi Phạm Tu đã thu quân về, có phải lúc đó Lý Bí cử Lý Phục Man ở phương Nam để “trấn thủ cõi xa” như trong “Thiên Nam ngữ lục”?
4. Sự tích lưu ở Quán Giá: “Biết ta còn phải lo bao việc trong dựng nước, bọn vua quan Lâm Ấp đã thừa cơ vào xâm lấn bờ cõi phía Nam. Tin cấp báo về đến Lý Bôn và các bạn chiến đấu của ông. Mọi người đều nói: “Với kẻ thù hung hãn như vậy phi Đỗ Động tướng quân không ai có thể đương đầu với giặc này”. Tin vào khả năng xuất chúng của người tướng trẻ, Lý Bôn đã nghe theo lời bàn cử tướng Phạm Tu vào Nam dẹp giặc.”
Cần lưu ý Lý Bí đã từng làm quan ở Cửu Đức, ông biết địch biết ta. Khó có cuộc “triều hội” tập hợp trăm quan để mọi người cho ý kiến. Có thể Lý Bí là người quyết định mau lẹ, cấp tốc cử Phạm Tu đem quân vào Cửu Đức.
5. Sự tích lưu ở Quán Giá: «Nghe tin thắng trận báo về Lý Bôn đã hết lời khen ngợi. Ông nói: “Tre già mới biết dao sắc, có gặp lúc nguy nan mới biết người tài giỏi. Nay Đỗ Động tướng quân bắn vài tên mà phá tan quân giặc dữ, thật là một hào kiệt đất Sơn Tây, dẫu bậc danh tướng đời xưa cũng không hơn được, cần phải trọng thưởng”.»
Qua câu nói của Lý Bí, xem ra lúc đó mới biết tài của Lý Phục Man. Nhưng quân Lâm Ấp đâu có quá mạnh để Lý Bí ca tụng như vậy. Hơn nữa địa danh “Sơn Tây” lại dùng quá sớm (tên gọi thời Lê nên sớm đến nghìn năm), không lấy “Đỗ Động, Đường Lâm” cho hợp thời cuộc hơn. Vừa mới gọi Lý Phục Man là “Đỗ Động tướng quân”.
6. Sự tích lưu ở Quán Giá: “Là người có nhiều công lớn phò mã Phạm Tu được vua phong cho chức Thái Úy đứng đầu ban võ.”
Có phải Lý Bí phong cho Lý Phục Man là Thái Úy? Trong chính sử, đến thời Lê Đại Hành mới thấy Phạm Cự Lượng (944-?) được phong Thái Úy năm 986!
7. Sự tích lưu ở Quán Giá: “Đầu năm Ất Sửu (545), bọn phong kiến nhà Lương lại sai Trần Bá Tiên mang quân sang hòng đặt ách đô hộ nước ta một lần nữa. Trận thử sức đầu tiên với đội quân xâm lược ở thành Chu Diên (Hải Hưng), quân ta bị thua. Biết chưa đủ sức triều đình nhà Lý đành phải lui quân về sông Tô Lịch xây đắp thành lũy (Hà Nội) để giữ thế thủ. Để bảo toàn lực lượng đánh địch lâu dài, vua Lý bèn cử Phục Man tướng công Phạm Tu ở lại giữ thành. Còn nhà vua đem triều đình về Khuất Liêu.
Chỉ qua mấy tháng, mùa thu năm Ất Sửu (545) tướng giặc Trần Bá Tiên lại đem quân đến vây đánh thành Tô Lịch. Trong một trận giao tranh với Trần Bá Tiên, tướng công đã anh dũng hy sinh tại trận tiền. Hai tùy tướng họ Trương đã mang được thi hài về quê an táng tại khu Hồ Mã.”
Đoạn trích trên viết không theo dòng chảy lịch sử mà chỉ viết những điểm mốc lịch sử gây nên sai sót về lịch sử:
Toàn thư ghi: “Ất Sửu, [Thiên Đức] năm thứ 2 [545], (Lương Đại Đồng năm thứ 11). Mùa hạ, tháng 6, nhà Lương cho Dương Thiêu làm Thứ sử Giao Châu, Trần Bá Tiên làm Tư mã, đem quân sang xâm, sai Thứ sử Định Châu là Tiêu Bột hội với bọn Thiêu ở Giang Tây”
Mùa hè, tháng sáu năm Ất Sửu (545), Lý Bí cầm quân cự giặc ở Chu Diên bị thua. Quân ta rút thì Trần Bá Tiên đuổi theo ngay. Chống giặc quyết liệt ở chiến thành sông Tô được chừng một tháng: ngày 20 tháng 7 tướng quân Phạm Tu hy sinh. Như vậy có thể đã cầm cự với giặc khoảng từ 1-2 tháng ở cửa sông Tô.
Có thể việc đắp thành cửa sông Tô là một kế hoạch phòng thủ đã được chuẩn bị trước. Thấy rõ thế giặc khi đem quân chống giặc ở Chu Diên, Lý Bí đốc thúc về kinh hoàn thành phòng tuyến quan trọng ở cửa sông Tô. Ngay mùa hè 545, quân ta vừa thua ở Chu Diên, giặc đã dồn toàn sức hướng về kinh đô Vạn Xuân tấn công đến thành cửa sông Tô do Phạm Tu chỉ huy. Giặc đã bị chặn lại, Lý Bí đưa bộ máy chính quyền non trẻ rút về vùng trung du củng cố lực lượng.
Theo Sự tích: “đầu năm… sai Trần Bá Tiên mang quân sang” dễ hiểu lầm là Lý Bí chống giặc từ đầu năm vì có nối tiếp ở đoạn ngay sau “chỉ qua mấy tháng, mùa thu”. Không lẽ để Lý Bí rút, cho đắp thành cửa sông Tô Lịch xong, đợi đến mùa thu, Trần Bá Tiên mới kéo quân đến đánh? Trong phép dùng binh, không ai làm vậy!
Rồi Sự tích đã bỏ qua mất việc Lý Bí chống giặc ở Gia Ninh, tập hợp quân ở hồ Điển Triệt. Không thể viết ngay thế này được “... Phạm Tu ở lại giữ thành. Còn nhà vua đem triều đình về Khuất Liêu.”
Về cái chết của Lý Phục Man ở thành cửa sông Tô Lịch là bổ sung quá mới, không có ghi trong bất kỳ một sự tích nào về Lý Phục Man đã lưu truyền trước đây. Không có trong văn bia, trong các câu đối ở Quán Giá. Đó chính là những thông tin về Phạm Tu người Thanh Liệt được bổ sung vào cho Sự tích mới này.
8. Sự tích lưu ở Quán Giá: “Kể từ khi đất nước dành được quyền tự chủ, các vương triều xưa như Tiền Lê, Hậu Lý, Hậu Lê, Mạc, Lê Trung Hưng, Nguyễn Tây Sơn và Nguyễn đã phong tặng tới 60 đạo sắc gồm gần 300 chữ đẹp. Đó chính là sự đánh giá của lịch sử và nhân dân về công lao sự nghiệp của tướng công vậy.”
Toàn thư có ghi việc: Năm 1016, Lý Thái Tổ mới cho xây đền, đắp tượng Lý Phục Man. Không rõ trước đó nhà Tiền Lê sắc phong cho thần như thế nào khi mà trước khi gặp Lý Thái Tổ, Thần vẫn còn ẩn danh? Trong Sự tích còn khẳng định có 74 nơi thờ Lý Phục Man, nhưng trước đó chưa vượt con số 72, như vậy đã có bổ sung thêm Đình Ngoại (Thanh Trì) và Đình Than (Quốc Oai) thờ Phạm Tu, những ông thủ từ trông coi hai đình này đều khẳng định tư liệu ở đó không có căn cứ cho rằng Phạm Tu là Lý Phục Man.
Tóm lại: Viết sự tích về một nhân vật lịch sử cần đúng với lịch sử thời đó và phù hợp với cuộc sống đời thường, việc hư cấu trong Sự tích đã mất tác dụng tôn vinh vị thần Lý Phục Man. Càng cố gắng hư cấu càng làm cho nhân vật chính trong Sự tích không thể là một nhân vật lịch sử, lại càng không thể lấy đó làm sử liệu để đồng nhất với Phạm Tu. Cần lược bớt những điều không phù hợp, bằng không vị thần ấy không phải là nhân thần. Bản thân việc Thần kể công đánh giặc như trong Việt điện u linh tập cho thấy việc hư cấu đã không vượt lên đời thường khác hẳn với vị Đô Hồ Đại vương mà ông thủ từ ở Đình Ngoại nhận xét khi tổng kết từ các hoạt động tâm linh liên quan: “Ngài không bao giờ kể công”. Từ Sự tích cho thấy tướng quân Lý Phục Man phần nhiều vẫn sống trong tưởng tượng từ thời Lý Thái Tổ đến nay.
Nhãn:
Đi tìm cơ sở,
Tháp Bút
NHỮNG CUỐN SÁCH VIẾT VỀ DANH TƯỚNG PHẠM TU VÀ LÝ PHỤC MAN
Ngày 01. 10. 2009
Thống kê những cuốn sách tiếng Việt được xuất bản chủ yếu trong 50 năm gần đây viết về Danh tướng Phạm Tu và Lý Phục Man để xem xét vấn đề đồng nhất hai nhân vật mới được những người viết blog nêu trở lại.
SÁCH KHÔNG THỂ HIỆN ĐỒNG NHẤT PHẠM TU LÀ LÝ PHỤC MAN
A. Về hệ thống sách giáo khoa lịch sử cho các trường học
-Tất các cuốn sách giáo khoa lịch sử từ trước đến nay dùng trong nhà trường (sách Lịch sử lớp 6) không có bất kỳ cuốn sách nào đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu.
-Trên mạng dùng cho giáo dục http://violet.vn/ có hơn hai triệu thành viên với đông đảo đội ngũ giáo viên tham gia, các bài giảng về Khởi nghĩa Lý Bí đều nêu hai nhân vật Phạm Tu và Lý Phục Man riêng biệt.
B. Những cuốn sách nghiên cứu về lịch sử văn hóa Việt Nam xuất bản gần đây (sắp xếp theo năm xuất bản). Những cuốn in nghiêng đậm có phân biệt quê hai nhân vật, hoặc nêu hai nhân vật riêng biệt là không đồng nhất.
Trước hết phải kể đến các cuốn sử chép trước đây
1. “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư”, (dịch từ bản in năm Chính Hòa thứ 18 (1697) là Nội các quan bản. Bản chính của Nội các quan bản hiện đang lưu giữ tại thư viện của trường Viễn Đông Bác Cổ, Paris.).
Nội dung về Phạm Tu và Lý Phục Man chắc chắn là tư liệu có từ cuốn Đại Việt Sử ký của Lê Văn Hưu (1230-1322) nhà sử học nổi tiếng đời Trần.
2. “Việt Nam sử lược”, Trần Trọng Kim, Nxb. Tân Bắc Trung Văn, 1920.
Các cuốn sử khác cũng thống nhất ghi riêng biệt Phạm Tu, không đồng nhất với Lý Phục Man: “Việt sử” của Ngô Thời Sỹ; “Sử ký” của Trần Trọng Kim...
3. “Việt điện u linh”, tác giả Lý Tế Xuyên, dịch giả Lê Hữu Mục (lời dẫn nhập viết tại Huế, ngày 24-11-1959), Khai Trí, Sài Gòn, 1961.
4. “Đại Nam nhất thống chí”, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1971.
Sách của Quốc sử quán triều Nguyễn soạn từ năm 1852, sách cho rằng Lý Phục Man chết do quân Lâm Ấp.
5. “Danh nhân Hà Nội”, (Hội văn nghệ Hà Nội, xuất bản 1973).
6. “Những người trẻ làm nên lịch sử”, Nguyễn Lương Bích, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1974.
7. “Hà Nội nghìn xưa”, (Sở Văn hóa-thông tin Hà Nội, xuất bản 1975).
8. “Danh nhân quê hương”, Ty văn hoá thông tin Hà Sơn Bình, 1976.
9. Luận án tiến sỹ của Keith Weller Taylor, The University of Michigan, USA, 1976 (Sau in trong The Birth of Vietnam (Berkeley: University of California Press, 1983). Paperback edition, 1991).
10. “Lịch sử Việt Nam”, Trương Hữu Quýnh, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1977.
“Lịch sử Việt Nam trước thế kỷ X” quyển I-tập I (Sách bồi dưỡng giáo viên) của tác giả Trương Hữu Quýnh được in lại lần thứ hai do Nxb. Giáo dục phát hành năm 1977. Chương thứ tư của cuốn sách (trang 141 đến 153) viết về Khởi nghĩa Lý Bí và nhà nước Vạn Xuân. Trang 145 viết: năm 543 Phạm Tu đánh Lâm Ấp và năm sau làm tướng võ của nhà nước Vạn Xuân. Trang 146 có viết về người có công trấn áp các lực lượng chưa thuần phục là Phục Man tướng quân-Lý Phục Man, việc trấn áp ấy được thực hiện khi Lý Bí đã lập xong chính quyền-đã thành lập nhà nước Vạn Xuân. Qua cuốn sách này, tác giả đã không đồng nhất hai nhân vật Phạm Tu và Lý Phục Man là một.
11. “Lịch sử Việt Nam”, Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1983, tập I.
12. “Từ điển văn hóa Việt Nam”, Vũ Ngọc Khánh, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1993.
13. “Thành hoàng Việt Nam”, Phạm Minh Thảo, Trần Thi An, Bùi Xuân Mỹ, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1997, tập II.
14. “Danh tướng Phạm Tu và họ Phạm trong lịch sử”, Phạm Đình Nhân, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1999.
15. “Lễ hội cổ truyền Hà Tây”, Sở Văn hóa Thông tin Hà Tây, 1999.
16. “Lịch sử Hà Tĩnh”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập I.
17. “Nghìn Xưa Văn Hiến”, Trần Quốc Vượng (chủ biên), tái bản lần 1, Nxb. Hà Nội, 2000, tập I.
18. “Việt Nam-những sự kiện lịch sử”, Viện Sử học, Nxb. Giáo Dục, 2001.
19. “Thiên Nam ngữ lục” (Thơ Nôm), Biên soạn Nguyễn Thị Lâm, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2001.
20. “Thành Hoàng Làng Việt Nam”, Vũ Ngọc Khánh, Nxb. Thanh Niên, Hà Nội, 2002.
21. “Thăng Long Hà Nội trong ca dao ngạn ngữ”, Giang Quân, Nxb. Hà Nội, 2002.
22. “Nguyễn Văn Huyên-Tác phẩm được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh”, Nguyễn Văn Huyên, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003, tập I.
Contribution à I'estude d'un gesnie tétulaire annamite Ly Phuc Man [Góp phần nghiên cứu một vị thành hoàng Việt Nam: Lý Phục Man], Hanoi.
Học giả Nguyễn Văn Huyên đã viết “Lý Phục Man chỉ là cái tên vua ban. Cả tên lẫn họ đều không phải tên họ của Tướng công lúc ra đời. Được gia ân mang tên họ mới và sau đấy người ta chỉ còn gọi biệt danh đến nỗi tên gốc hoàn toàn biến mất”. (Theo NLG)
23. “Danh tướng Phạm Tu (476-545)…”, Phạm Hồng Vũ, Hội Văn học nghệ thuật Hà Nội, 2003.
24. “Danh nhân Hà Nội”, Vũ Khiêu chủ biên, Nxb. Hà Nội, 2004.
25. “Danh nhân Hà Nội”, Trần Quốc Vượng, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004.
26. “Hà Nội như tôi hiểu”, GS. Trần Quốc Vượng, Nxb. Tôn Giáo, 2005.
27. “Lịch sử Thăng Long Hà Nội”, Nguyễn Vinh Phúc chủ biên, Nxb. Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, 2005.
28. “Từ Điển Nhân Vật Lịch Sử Việt Nam”, Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2006.
29. “Danh tướng Việt Nam”, Nguyễn Khắc Thuần, Nxb. Giáo dục, Tp. Hồ Chí Minh, 2006, tập IV.
30. “Nguyễn Hãng-tác phẩm”, Biên soạn Nguyễn Văn Toại, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2007 (Nguyễn Hãng sống đầu thế kỷ 16, cuối thời Lê sơ, đầu thời Mạc).
31. Bộ sách “Họ Phạm trong cộng đồng dân Việt”, 2 tập, gần 1000 trang, Bản thảo do Ban Liên lạc họ Phạm Việt Nam ấn hành nội tộc, Hà Nội, 2007.
32. “Cổng làng Hà Nội xưa và nay”, Vũ Kiêm Ninh, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2007.
33. “Thăng Long-Hà Nội một nghìn sự kiện lịch sử”, Vũ Văn Quân, Nxb. Hà Nội, 2007.
Trong 27 sự kiện của Hà Nội thời nghìn năm Bắc thuộc, có sự kiện thứ 3: “Khởi nghĩa Lý Bí năm 542 với sự tham gia của nhân dân Hà Nội” mà đứng đầu là danh tướng Phạm Tu. Đặc biệt là việc nêu tóm tắt tiểu sử nhân vật Phạm Tu (duy nhất một nhân vật dù không phải là lãnh tụ như Hai Bà Trưng, Lý Nam Đế, Triệu Việt Vương, Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng, …). Trong tổng số 11 câu viết về sự kiện này đã dành 9 câu nói về Phạm Tu. Có lẽ tác giả đã vô tình nêu lên vị trí đặc biệt của nhân vật lịch sử Phạm Tu đối với kinh đô ngàn năm của nước Việt và phần nào giúp hiểu rõ vai trò của ông đối với đất Long Đỗ cổ, Thăng Long xưa và Hà Nội nay. "Sinh vi tướng tử vi thần", ông chính là một vị thần uy linh của Hà Nội.
34. “Hà Nội xưa và nay”, Vũ Tuân Sán, Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội, 2007.
35. “Các triều đại Việt Nam”, Quỳnh Cư và Đỗ Đức Hùng, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2007. Sách này nêu rõ việc Phạm Tu hy sinh tại cửa sông Tô Lịch.
36. “Tóm tắt niên biểu lịch sử Việt Nam”, Hà Văn Thư và Trần Hồng Đức, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2008.
37. “Việt Nam Các Nhân Vật Lịch Sử-Văn Hóa”, Đinh Xuân Lâm và Trương Hữu Quýnh, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2008.
38. “54 vị hoàng đế Việt Nam”, Đặng Việt Thủy và Đặng Thành Trung, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2008.
39. “Hà Nội nghìn xưa”, Trần Quốc Vượng và Vũ Tuân Sán, Nxb. Hà Nội, 2009
40. “Hỏi đáp về những ngôi đình nổi tiếng ở Việt Nam”, Đặng Việt Thủy, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2009.
41. “Việt Nam biên niên sử”, Đặng Duy Phúc, Nxb. Hà Nội, 2009.
42. “Ngàn năm văn hóa đất Thăng Long”, Hồ Phương Lan, Nxb. Lao động, 2009.
43. “Đô Hồ Đại vương Phạm Tu”, Phạm Hồng Vũ, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2010.
...
Còn có nhiều cuốn sách viết về Lý Bí, nhà nước Vạn Xuân cùng nhiều sách lịch sử văn hóa khác.
Ngoài ra có sách Trung Quốc “Tư trị thông giám” của Tư Mã Quang (q. 158) cũng ghi: “Mùa hè tháng tư, vua Lâm Ấp tiến công Lý Bí, viên trưởng của (Lý) Bí là Phạm Tu đã phá quân Lâm ấp ở Cửu Đức”.
Tư Mã Quang: tiếng Trung Quốc: 司馬光/司马光; bính âm: Sima Guang; Wade-Giles: Szuma Kuang; (1019-1086), tự Quân Thật 君實, hiệu Vu Tẩu 迂叟, là một nhà sử học, học giả Trung Quốc, Thừa tướng thời nhà Tống.
Từ hơn 40 cuốn sách chủ yếu xuất bản 50 năm trở lại lại đây (trong đó có sử sách cổ của quốc gia), căn cứ vào thời đại của tác giả chúng ta biết: chưa thấy có việc đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu từ các mốc thời gian:
- Thế kỷ thứ 6, chính sử ghi vào năm 543 và 544 Phạm Tu đánh tan quân Lâm Ấp và đứng đầu quan võ nhà nước Vạn Xuân
- Thế kỷ 11, năm 1016 với giấc mộng của Lý Thái Tổ thấy thần Lý Phục Man đã ghi trong chính sử
- Thế kỷ 11 với Tư Mã Quang (1019-1086) là nhà sử học, học giả nhà Tống
- Thế kỷ 14 với Lý Tế Xuyên viết “Việt điện u linh tập” năm 1329
- Đầu thế kỷ 16 với Nguyễn Hãng thời nhà Mạc
- Thế kỷ 17-18 với các tác giả bộ “Đại Việt sử ký toàn thư”; tác giả Gia Cát thị cuốn “Việt điện u linh tập tân đính hiệu bình”; và ở cuốn “Thiên Nam ngữ lục”
- Thế kỷ 19 (từ năm 1852) với các tác giả “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn
- Năm 1934 với Phụng Nghị đại phu Vũ Văn Đức đã chép thần phả Đình Ngoại từ Đền Hùng
- Năm 1939 với học giả Nguyễn Văn Huyên (1908-1975) không xác định “tên khai sinh” của Lý Phục Man
- Năm 1959 với dịch giả Lê Hữu Mục trong cuốn “Việt điện U linh tập” của Lý Tế Xuyên
Những năm 60, 70 của thế kỷ trước có nhiều cuốn sách xuất bản phân biệt rõ hai nhân vật. Tuy nhiên năm 1968 cuốn Đình Yên Sở của Ty Văn hóa-thông tin Hà Tây có đề cập đến việc đồng nhất.
Năm 1982 các nhà sử học trong và ngoài Quân đội cùng các cộng sự đã khảo sát kỹ lưỡng tại xã Thanh Liệt, Thanh Trì và xã Yên Sở, Hoài Đức. Ngày 25/12/1982, tại xã Yên Sở đã diễn ra hội thảo khoa học về Lý Phục Man. Trong Hội thảo có một số báo cáo cho rằng có thể đồng nhất hai nhân vật Phạm Tu và Lý Phục Man.
Khi có bài báo “Phạm Tu với nhà nước Vạn Xuân”, báo Hà Nội mới ra ngày 11/9/1983, vấn đề công khai rộng rãi trên báo chí do Đàm Hưng viết: “Vì thế ông được Lý Nam Đế phong chức Phục Man tướng công và cho đổi họ. Vì thế dân gian gọi Phạm Tu là Lý Phục Man”.
Bài báo này hoàn toàn sử dụng tài liệu thần tích Đình Ngoại, và khẳng định quê của Phạm Tu ở Thanh Liệt nhưng lại mang thông tin của Lý Phục Man (được phong Phục Man tướng quân, mang quốc tính, gọi là Lý Phục Man) ở làng Giá gán cho Phạm Tu ở Thanh Liệt (xem bản sao bài báo ở phần phụ lục). Điều này không thấy ghi trong các tư liệu về Phạm Tu ở Thanh Liệt.
Có lẽ từ việc công khai trên báo chí đã giúp cho các suy đoán Lý Phục Man là Phạm Tu phát triển, do vậy đã có một số người đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu ở vài cuốn sách sau đây:
SÁCH ĐỒNG NHẤT HAI NHÂN VẬT PHẠM TU VÀ LÝ PHỤC MAN
Sớm nhất phải kể đến cuốn Đình Yên Sở của Ty Văn hóa-thông tin Hà Tây viết năm 1968, đã xuất hiện vấn đề đồng nhất, tuy nhiên chúng tôi chưa tiếp cận được tư liệu này.
1. “Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam”, Nguyễn Q. Thắng, Nguyễn Bá Thế; Huỳnh Lứa duyệt và hiệu chỉnh, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991.
Chúng tôi đã liên lạc qua điện thoại, gửi email có kèm bản thảo chuyên đề này đến tác giả Nguyễn Q. Thắng. Với mục đích xin tác giả cho biết về nguồn tư liệu để viết về Phạm Tu trong cuốn sách này. Rất tiếc tác giả đã tuổi cao lại mới phẫu thuật mắt nên chúng tôi chưa nhận được câu trả lời chính thức. Qua các cuộc gặp trực tiếp và gián tiếp, tác giả có nêu lên ngay chính Toàn thư cũng có thể đồng nhất hai nhân vật lịch sử này. Nhưng theo bài viết “Tìm cơ sở đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu qua tài liệu cổ” (xem tr. 70) chúng ta thấy tác giả Nguyễn Q. Thắng nêu ra lý do đồng nhất 2 nhân vật chưa có sức thuyết phục. Do trong Toàn thư ghi hai việc xảy ra cách nhau gần 500 năm mà một bên Phạm Tu là người thực và một bên Lý Phục Man là vị thần trong chiêm bao. Mặc dù có thể thấy Lý Thái Tổ là vị thiên tử có khả năng đặc biệt mà ngày nay chúng ta có thể gọi là nhà ngoại cảm. Tuy vậy những lo toan cho vận mệnh nước nhà của nhà vua sẽ có phần nào đó được thần thánh hóa trong một vài sự việc xảy ra, tạo nên sự huyền bí có lợi cho việc trị vì của nhà vua và có ích cho xã tắc.
2. “Văn bia Quán Giá”, Nguyễn Bá Hân, Nxb. Thế Giới, 1995.
Ngoài nội dung 5 văn bia được ghi chữ Nho và dịch công phu (hoàn toàn không có một ý nào đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu), tác giả có kèm tư liệu “Sự tích tướng công Lý Phục Man” từ trang 259-265 được cho là tư liệu lưu tại Phòng Bảo tàng Quán Giá với nguồn tư liệu từ thần phả, văn bia và sử. Việc làm này đã làm mất đi phần nào giá trị của cuốn sách và ảnh hưởng uy tín của người giới thiệu. Do không có nhiều giá trị về sử học và xuất xứ không rõ ràng, không thấy tên tác giả, thời gian xuất hiện. Sự tích này đã đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu. Chúng ta nhận thấy đây là tài liệu viết hoàn toàn bằng chữ quốc ngữ (không phải là tài liệu cổ, chữ Nho) bởi có những câu mang đậm dấu ấn thế kỷ 20, ở trang 262 có câu: “Tin cấp báo về tới Lý Bôn và các bạn chiến đấu của ông.” Thư viện Bình Định còn lấy tên dị bản (Văn bia đền thờ Phục Man tướng công Phạm Tu) ở cuối cuốn sách thay cho tên cuốn sách được phép xuất bản.
Sau khi gửi thư đóng góp ý kiến tới Nxb. Thế giới, chúng tôi được biết Nhà xuất bản sẽ gửi bản thảo chuyên đề này đến tác giả Nguyễn Bá Hân. Hầu hết các sách mà tác giả này công bố đều thể hiện ý muốn đồng nhất 2 nhân vật.
3. “Lịch sử quân sự Việt Nam”, GS. Trần Quốc Vượng. Lê Đình Sỹ, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, Tập II.
Cuốn sách này không khẳng định việc có thể đồng nhất hai nhân vật: “Phạm Tu và Lý Phục Man là một hay hai người và quan hệ với nhau như thế nào, đấy là một vấn đề được đặt ra từ rất lâu, nhưng chưa đủ cứ liệu khoa học để kết luận.” Nhưng chính trong cuốn sách này lại có nhiều chỗ dùng thông tin về Lý Phục Man ở Yên Sở rồi thay tên Phạm Tu vào, theo kiểu “râu ông nọ cắm cằm bà kia”. Đơn cử như câu: “Năm 1016, vua Lý Thái Tổ qua bến Cổ Sở, đã sai lập đền thờ và đắp tượng Phạm Tu.” (xem tr. 53 trích Toàn thư ghi sự việc này không phải là Phạm Tu).
4. “Hành trình về làng Việt cổ”, Bùi Xuân Đính, Nxb. Từ điển bách khoa, H. 2008, tập I (xem tr. 12).
5. “Sự tích đức thánh Giá”, Yên Sơn Nguyễn Bá Hân, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2009.
Trong Thiên Nam minh giám cũng có viết đến Phạm Tu, (Tiền Nam đế dâng công mở nước/ Tôi thuẫn thành dùng được Phục, Tu) ở chú thích của soạn giả Hoàng Thị Ngọ cho là Phạm Tu quê ở Yên Sở, Hoài Đức. (tr. 24)
Còn một số cuốn nêu lên nghi vấn mà không nêu ra được cơ sở để khẳng định tính khoa học của vấn đề đồng nhất như:
-“Địa chí Hà Tây” của Sở Văn hóa thông tin Hà Tây, 2007. Cuốn này nêu rõ: “Chính sử nước ta và sử Trung Quốc (Lương thư) chỉ chép duy nhất có một vị tướng tham gia đánh Lâm Ấp là Phạm Tu. Có thể Phạm Tu sau này được ban quốc tính và được đặt tên là Lý Phục Man.” Nghi vấn này được dẫn từ cuốn “Lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỷ X”, Đỗ Văn Ninh, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1999.
...
Ngoài ra, theo thông tin từ Nxb. Hà Nội, còn có một cuốn sách xuất bản nhân dịp kỷ niệm Đại lễ 1000 năm Thăng Long: “Thăng Long-Hà Nội những trang sử vẻ vang chống ngoại xâm” của PGS, TS Lê Đình Sỹ. Trong buổi họp nghiệm thu bản thảo có nhận xét của PGS, TS. Viện trưởng Viện Sử học Nguyễn Văn Nhật là: Một số khái niệm cần thống nhất: Lý Phục Man và Phạm Tu, là một người hay 2 người (Tr. 47, 48), … . Đặc biệt là ý kiến của GS Phan Huy Lê kết luận: “Quan điểm về Phạm Tu và Lý Phục Man là 1 người hay 2 người hiện nay chưa thống nhất, tác giả không nên khẳng định.”
Chúng tôi đã gửi bản thảo chuyên đề này đến Nxb. Hà Nội nhưng sách đã xuất bản mà vẫn chưa có hồi âm.
Hàng loạt sách về Thăng Long-Hà Nội phục vụ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội cũng sẽ đề cập đến một nhân vật lịch sử hàng đầu của Thăng Long-Hà Nội xưa, đó chính là tướng quân Phạm Tu. Tiêu biểu có cuốn 36 danh tướng Thăng Long-Hà Nội. Đặc biệt cuốn Danh nhân quân sự Việt Nam (thời Âu Lạc đến Tiền Lê) do Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam chỉ đạo, TS. Lê Văn Thái chủ biên đã đánh giá cao vai trò của Danh tướng Phạm Tu (476-545) đối với Dân tộc, một vị Tổng chỉ huy là anh hùng liệt sỹ. Trong tập sách có 17 danh nhân (gồm 9 vị quân vương và 8 Danh tướng) đã có 3 vị danh tướng họ Phạm là dòng dõi Phạm Tu (Theo thứ tự có: 6. Phạm Tu; 14. Phạm Bạch Hổ; 16. Phạm Cự Lạng.)
Tóm lại: Các cuốn sử lớn của nước ta và hệ thống sách giáo khoa đều không đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu. Chủ biên sách và các tác giả có nhiều nhà nghiên cứu uy tín trong giới khoa học qua nhiều tác phẩm không thể hiện việc đồng nhất. Chúng ta thấy tên nhiều nhà khoa học trong số các vị: GS. Nguyễn Văn Huyên (1908-1975), GS. Trần Quốc Vượng (1934-2005), Vũ Tuân Sán (sinh 1915), GS. Vũ Khiêu (sinh 1916), GS. Đinh Xuân Lâm (sinh 1925), GS. Vũ Ngọc Khánh (sinh 1927), Nguyễn Vinh Phúc (sinh 1927), Trương Hữu Quýnh (sinh 1935), Ngô Đức Thọ (sinh 1936), Trần Lê Sáng, Hà Văn Thư, Trần Hồng Đức, Hồ Phương Lan, Giang Quân, Đặng Việt Thủy, PGS. TS. Vũ Văn Quân (sinh 1963), … Trong đó các vị “tứ trụ” “Lâm, Lê, Tấn, Vượng” (tức gồm các Giáo sư: Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn và Trần Quốc Vượng) của sử học Việt Nam đương đại đều quan tâm đến vấn đề đồng nhất mà sao vẫn chưa có kết luận vấn đề?
Việc đồng nhất chỉ có ở một vài tác phẩm với những tác giả cụ thể. Cả năm cuốn sách đồng nhất đều không đưa ra căn cứ để xác định tính khoa học của việc đồng nhất do vậy chỉ là những nghi vấn đang cần các nhà khoa học lý giải.
Tài liệu tham khảo
Một số cuốn sách nêu trên; Lão tướng Phạm Tu của GS. Lê Văn Lan
Các bài báo có trong phụ lục.
Blog NLG: http://nguyenthedung.vnweblogs.com/
Các trang web:
http://thanglonghanoi.gov.vn/; http://www.vinabook.com/; http://www.nxbhanoi.com.vn/; http://www.quansuvn.net/; http://www.lichsuvietnam.info/; http://vi.wikipedia.org/; …
Thống kê những cuốn sách tiếng Việt được xuất bản chủ yếu trong 50 năm gần đây viết về Danh tướng Phạm Tu và Lý Phục Man để xem xét vấn đề đồng nhất hai nhân vật mới được những người viết blog nêu trở lại.
SÁCH KHÔNG THỂ HIỆN ĐỒNG NHẤT PHẠM TU LÀ LÝ PHỤC MAN
A. Về hệ thống sách giáo khoa lịch sử cho các trường học
-Tất các cuốn sách giáo khoa lịch sử từ trước đến nay dùng trong nhà trường (sách Lịch sử lớp 6) không có bất kỳ cuốn sách nào đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu.
-Trên mạng dùng cho giáo dục http://violet.vn/ có hơn hai triệu thành viên với đông đảo đội ngũ giáo viên tham gia, các bài giảng về Khởi nghĩa Lý Bí đều nêu hai nhân vật Phạm Tu và Lý Phục Man riêng biệt.
B. Những cuốn sách nghiên cứu về lịch sử văn hóa Việt Nam xuất bản gần đây (sắp xếp theo năm xuất bản). Những cuốn in nghiêng đậm có phân biệt quê hai nhân vật, hoặc nêu hai nhân vật riêng biệt là không đồng nhất.
Trước hết phải kể đến các cuốn sử chép trước đây
1. “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư”, (dịch từ bản in năm Chính Hòa thứ 18 (1697) là Nội các quan bản. Bản chính của Nội các quan bản hiện đang lưu giữ tại thư viện của trường Viễn Đông Bác Cổ, Paris.).
Nội dung về Phạm Tu và Lý Phục Man chắc chắn là tư liệu có từ cuốn Đại Việt Sử ký của Lê Văn Hưu (1230-1322) nhà sử học nổi tiếng đời Trần.
2. “Việt Nam sử lược”, Trần Trọng Kim, Nxb. Tân Bắc Trung Văn, 1920.
Các cuốn sử khác cũng thống nhất ghi riêng biệt Phạm Tu, không đồng nhất với Lý Phục Man: “Việt sử” của Ngô Thời Sỹ; “Sử ký” của Trần Trọng Kim...
3. “Việt điện u linh”, tác giả Lý Tế Xuyên, dịch giả Lê Hữu Mục (lời dẫn nhập viết tại Huế, ngày 24-11-1959), Khai Trí, Sài Gòn, 1961.
4. “Đại Nam nhất thống chí”, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1971.
Sách của Quốc sử quán triều Nguyễn soạn từ năm 1852, sách cho rằng Lý Phục Man chết do quân Lâm Ấp.
5. “Danh nhân Hà Nội”, (Hội văn nghệ Hà Nội, xuất bản 1973).
6. “Những người trẻ làm nên lịch sử”, Nguyễn Lương Bích, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1974.
7. “Hà Nội nghìn xưa”, (Sở Văn hóa-thông tin Hà Nội, xuất bản 1975).
8. “Danh nhân quê hương”, Ty văn hoá thông tin Hà Sơn Bình, 1976.
9. Luận án tiến sỹ của Keith Weller Taylor, The University of Michigan, USA, 1976 (Sau in trong The Birth of Vietnam (Berkeley: University of California Press, 1983). Paperback edition, 1991).
10. “Lịch sử Việt Nam”, Trương Hữu Quýnh, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1977.
“Lịch sử Việt Nam trước thế kỷ X” quyển I-tập I (Sách bồi dưỡng giáo viên) của tác giả Trương Hữu Quýnh được in lại lần thứ hai do Nxb. Giáo dục phát hành năm 1977. Chương thứ tư của cuốn sách (trang 141 đến 153) viết về Khởi nghĩa Lý Bí và nhà nước Vạn Xuân. Trang 145 viết: năm 543 Phạm Tu đánh Lâm Ấp và năm sau làm tướng võ của nhà nước Vạn Xuân. Trang 146 có viết về người có công trấn áp các lực lượng chưa thuần phục là Phục Man tướng quân-Lý Phục Man, việc trấn áp ấy được thực hiện khi Lý Bí đã lập xong chính quyền-đã thành lập nhà nước Vạn Xuân. Qua cuốn sách này, tác giả đã không đồng nhất hai nhân vật Phạm Tu và Lý Phục Man là một.
11. “Lịch sử Việt Nam”, Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1983, tập I.
12. “Từ điển văn hóa Việt Nam”, Vũ Ngọc Khánh, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1993.
13. “Thành hoàng Việt Nam”, Phạm Minh Thảo, Trần Thi An, Bùi Xuân Mỹ, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1997, tập II.
14. “Danh tướng Phạm Tu và họ Phạm trong lịch sử”, Phạm Đình Nhân, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1999.
15. “Lễ hội cổ truyền Hà Tây”, Sở Văn hóa Thông tin Hà Tây, 1999.
16. “Lịch sử Hà Tĩnh”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập I.
17. “Nghìn Xưa Văn Hiến”, Trần Quốc Vượng (chủ biên), tái bản lần 1, Nxb. Hà Nội, 2000, tập I.
18. “Việt Nam-những sự kiện lịch sử”, Viện Sử học, Nxb. Giáo Dục, 2001.
19. “Thiên Nam ngữ lục” (Thơ Nôm), Biên soạn Nguyễn Thị Lâm, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2001.
20. “Thành Hoàng Làng Việt Nam”, Vũ Ngọc Khánh, Nxb. Thanh Niên, Hà Nội, 2002.
21. “Thăng Long Hà Nội trong ca dao ngạn ngữ”, Giang Quân, Nxb. Hà Nội, 2002.
22. “Nguyễn Văn Huyên-Tác phẩm được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh”, Nguyễn Văn Huyên, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003, tập I.
Contribution à I'estude d'un gesnie tétulaire annamite Ly Phuc Man [Góp phần nghiên cứu một vị thành hoàng Việt Nam: Lý Phục Man], Hanoi.
Học giả Nguyễn Văn Huyên đã viết “Lý Phục Man chỉ là cái tên vua ban. Cả tên lẫn họ đều không phải tên họ của Tướng công lúc ra đời. Được gia ân mang tên họ mới và sau đấy người ta chỉ còn gọi biệt danh đến nỗi tên gốc hoàn toàn biến mất”. (Theo NLG)
23. “Danh tướng Phạm Tu (476-545)…”, Phạm Hồng Vũ, Hội Văn học nghệ thuật Hà Nội, 2003.
24. “Danh nhân Hà Nội”, Vũ Khiêu chủ biên, Nxb. Hà Nội, 2004.
25. “Danh nhân Hà Nội”, Trần Quốc Vượng, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004.
26. “Hà Nội như tôi hiểu”, GS. Trần Quốc Vượng, Nxb. Tôn Giáo, 2005.
27. “Lịch sử Thăng Long Hà Nội”, Nguyễn Vinh Phúc chủ biên, Nxb. Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, 2005.
28. “Từ Điển Nhân Vật Lịch Sử Việt Nam”, Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2006.
29. “Danh tướng Việt Nam”, Nguyễn Khắc Thuần, Nxb. Giáo dục, Tp. Hồ Chí Minh, 2006, tập IV.
30. “Nguyễn Hãng-tác phẩm”, Biên soạn Nguyễn Văn Toại, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2007 (Nguyễn Hãng sống đầu thế kỷ 16, cuối thời Lê sơ, đầu thời Mạc).
31. Bộ sách “Họ Phạm trong cộng đồng dân Việt”, 2 tập, gần 1000 trang, Bản thảo do Ban Liên lạc họ Phạm Việt Nam ấn hành nội tộc, Hà Nội, 2007.
32. “Cổng làng Hà Nội xưa và nay”, Vũ Kiêm Ninh, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2007.
33. “Thăng Long-Hà Nội một nghìn sự kiện lịch sử”, Vũ Văn Quân, Nxb. Hà Nội, 2007.
Trong 27 sự kiện của Hà Nội thời nghìn năm Bắc thuộc, có sự kiện thứ 3: “Khởi nghĩa Lý Bí năm 542 với sự tham gia của nhân dân Hà Nội” mà đứng đầu là danh tướng Phạm Tu. Đặc biệt là việc nêu tóm tắt tiểu sử nhân vật Phạm Tu (duy nhất một nhân vật dù không phải là lãnh tụ như Hai Bà Trưng, Lý Nam Đế, Triệu Việt Vương, Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng, …). Trong tổng số 11 câu viết về sự kiện này đã dành 9 câu nói về Phạm Tu. Có lẽ tác giả đã vô tình nêu lên vị trí đặc biệt của nhân vật lịch sử Phạm Tu đối với kinh đô ngàn năm của nước Việt và phần nào giúp hiểu rõ vai trò của ông đối với đất Long Đỗ cổ, Thăng Long xưa và Hà Nội nay. "Sinh vi tướng tử vi thần", ông chính là một vị thần uy linh của Hà Nội.
34. “Hà Nội xưa và nay”, Vũ Tuân Sán, Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội, 2007.
35. “Các triều đại Việt Nam”, Quỳnh Cư và Đỗ Đức Hùng, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2007. Sách này nêu rõ việc Phạm Tu hy sinh tại cửa sông Tô Lịch.
36. “Tóm tắt niên biểu lịch sử Việt Nam”, Hà Văn Thư và Trần Hồng Đức, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2008.
37. “Việt Nam Các Nhân Vật Lịch Sử-Văn Hóa”, Đinh Xuân Lâm và Trương Hữu Quýnh, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2008.
38. “54 vị hoàng đế Việt Nam”, Đặng Việt Thủy và Đặng Thành Trung, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2008.
39. “Hà Nội nghìn xưa”, Trần Quốc Vượng và Vũ Tuân Sán, Nxb. Hà Nội, 2009
40. “Hỏi đáp về những ngôi đình nổi tiếng ở Việt Nam”, Đặng Việt Thủy, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2009.
41. “Việt Nam biên niên sử”, Đặng Duy Phúc, Nxb. Hà Nội, 2009.
42. “Ngàn năm văn hóa đất Thăng Long”, Hồ Phương Lan, Nxb. Lao động, 2009.
43. “Đô Hồ Đại vương Phạm Tu”, Phạm Hồng Vũ, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2010.
...
Còn có nhiều cuốn sách viết về Lý Bí, nhà nước Vạn Xuân cùng nhiều sách lịch sử văn hóa khác.
Ngoài ra có sách Trung Quốc “Tư trị thông giám” của Tư Mã Quang (q. 158) cũng ghi: “Mùa hè tháng tư, vua Lâm Ấp tiến công Lý Bí, viên trưởng của (Lý) Bí là Phạm Tu đã phá quân Lâm ấp ở Cửu Đức”.
Tư Mã Quang: tiếng Trung Quốc: 司馬光/司马光; bính âm: Sima Guang; Wade-Giles: Szuma Kuang; (1019-1086), tự Quân Thật 君實, hiệu Vu Tẩu 迂叟, là một nhà sử học, học giả Trung Quốc, Thừa tướng thời nhà Tống.
Từ hơn 40 cuốn sách chủ yếu xuất bản 50 năm trở lại lại đây (trong đó có sử sách cổ của quốc gia), căn cứ vào thời đại của tác giả chúng ta biết: chưa thấy có việc đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu từ các mốc thời gian:
- Thế kỷ thứ 6, chính sử ghi vào năm 543 và 544 Phạm Tu đánh tan quân Lâm Ấp và đứng đầu quan võ nhà nước Vạn Xuân
- Thế kỷ 11, năm 1016 với giấc mộng của Lý Thái Tổ thấy thần Lý Phục Man đã ghi trong chính sử
- Thế kỷ 11 với Tư Mã Quang (1019-1086) là nhà sử học, học giả nhà Tống
- Thế kỷ 14 với Lý Tế Xuyên viết “Việt điện u linh tập” năm 1329
- Đầu thế kỷ 16 với Nguyễn Hãng thời nhà Mạc
- Thế kỷ 17-18 với các tác giả bộ “Đại Việt sử ký toàn thư”; tác giả Gia Cát thị cuốn “Việt điện u linh tập tân đính hiệu bình”; và ở cuốn “Thiên Nam ngữ lục”
- Thế kỷ 19 (từ năm 1852) với các tác giả “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn
- Năm 1934 với Phụng Nghị đại phu Vũ Văn Đức đã chép thần phả Đình Ngoại từ Đền Hùng
- Năm 1939 với học giả Nguyễn Văn Huyên (1908-1975) không xác định “tên khai sinh” của Lý Phục Man
- Năm 1959 với dịch giả Lê Hữu Mục trong cuốn “Việt điện U linh tập” của Lý Tế Xuyên
Những năm 60, 70 của thế kỷ trước có nhiều cuốn sách xuất bản phân biệt rõ hai nhân vật. Tuy nhiên năm 1968 cuốn Đình Yên Sở của Ty Văn hóa-thông tin Hà Tây có đề cập đến việc đồng nhất.
Năm 1982 các nhà sử học trong và ngoài Quân đội cùng các cộng sự đã khảo sát kỹ lưỡng tại xã Thanh Liệt, Thanh Trì và xã Yên Sở, Hoài Đức. Ngày 25/12/1982, tại xã Yên Sở đã diễn ra hội thảo khoa học về Lý Phục Man. Trong Hội thảo có một số báo cáo cho rằng có thể đồng nhất hai nhân vật Phạm Tu và Lý Phục Man.
Khi có bài báo “Phạm Tu với nhà nước Vạn Xuân”, báo Hà Nội mới ra ngày 11/9/1983, vấn đề công khai rộng rãi trên báo chí do Đàm Hưng viết: “Vì thế ông được Lý Nam Đế phong chức Phục Man tướng công và cho đổi họ. Vì thế dân gian gọi Phạm Tu là Lý Phục Man”.
Bài báo này hoàn toàn sử dụng tài liệu thần tích Đình Ngoại, và khẳng định quê của Phạm Tu ở Thanh Liệt nhưng lại mang thông tin của Lý Phục Man (được phong Phục Man tướng quân, mang quốc tính, gọi là Lý Phục Man) ở làng Giá gán cho Phạm Tu ở Thanh Liệt (xem bản sao bài báo ở phần phụ lục). Điều này không thấy ghi trong các tư liệu về Phạm Tu ở Thanh Liệt.
Có lẽ từ việc công khai trên báo chí đã giúp cho các suy đoán Lý Phục Man là Phạm Tu phát triển, do vậy đã có một số người đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu ở vài cuốn sách sau đây:
SÁCH ĐỒNG NHẤT HAI NHÂN VẬT PHẠM TU VÀ LÝ PHỤC MAN
Sớm nhất phải kể đến cuốn Đình Yên Sở của Ty Văn hóa-thông tin Hà Tây viết năm 1968, đã xuất hiện vấn đề đồng nhất, tuy nhiên chúng tôi chưa tiếp cận được tư liệu này.
1. “Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam”, Nguyễn Q. Thắng, Nguyễn Bá Thế; Huỳnh Lứa duyệt và hiệu chỉnh, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991.
Chúng tôi đã liên lạc qua điện thoại, gửi email có kèm bản thảo chuyên đề này đến tác giả Nguyễn Q. Thắng. Với mục đích xin tác giả cho biết về nguồn tư liệu để viết về Phạm Tu trong cuốn sách này. Rất tiếc tác giả đã tuổi cao lại mới phẫu thuật mắt nên chúng tôi chưa nhận được câu trả lời chính thức. Qua các cuộc gặp trực tiếp và gián tiếp, tác giả có nêu lên ngay chính Toàn thư cũng có thể đồng nhất hai nhân vật lịch sử này. Nhưng theo bài viết “Tìm cơ sở đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu qua tài liệu cổ” (xem tr. 70) chúng ta thấy tác giả Nguyễn Q. Thắng nêu ra lý do đồng nhất 2 nhân vật chưa có sức thuyết phục. Do trong Toàn thư ghi hai việc xảy ra cách nhau gần 500 năm mà một bên Phạm Tu là người thực và một bên Lý Phục Man là vị thần trong chiêm bao. Mặc dù có thể thấy Lý Thái Tổ là vị thiên tử có khả năng đặc biệt mà ngày nay chúng ta có thể gọi là nhà ngoại cảm. Tuy vậy những lo toan cho vận mệnh nước nhà của nhà vua sẽ có phần nào đó được thần thánh hóa trong một vài sự việc xảy ra, tạo nên sự huyền bí có lợi cho việc trị vì của nhà vua và có ích cho xã tắc.
2. “Văn bia Quán Giá”, Nguyễn Bá Hân, Nxb. Thế Giới, 1995.
Ngoài nội dung 5 văn bia được ghi chữ Nho và dịch công phu (hoàn toàn không có một ý nào đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu), tác giả có kèm tư liệu “Sự tích tướng công Lý Phục Man” từ trang 259-265 được cho là tư liệu lưu tại Phòng Bảo tàng Quán Giá với nguồn tư liệu từ thần phả, văn bia và sử. Việc làm này đã làm mất đi phần nào giá trị của cuốn sách và ảnh hưởng uy tín của người giới thiệu. Do không có nhiều giá trị về sử học và xuất xứ không rõ ràng, không thấy tên tác giả, thời gian xuất hiện. Sự tích này đã đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu. Chúng ta nhận thấy đây là tài liệu viết hoàn toàn bằng chữ quốc ngữ (không phải là tài liệu cổ, chữ Nho) bởi có những câu mang đậm dấu ấn thế kỷ 20, ở trang 262 có câu: “Tin cấp báo về tới Lý Bôn và các bạn chiến đấu của ông.” Thư viện Bình Định còn lấy tên dị bản (Văn bia đền thờ Phục Man tướng công Phạm Tu) ở cuối cuốn sách thay cho tên cuốn sách được phép xuất bản.
Sau khi gửi thư đóng góp ý kiến tới Nxb. Thế giới, chúng tôi được biết Nhà xuất bản sẽ gửi bản thảo chuyên đề này đến tác giả Nguyễn Bá Hân. Hầu hết các sách mà tác giả này công bố đều thể hiện ý muốn đồng nhất 2 nhân vật.
3. “Lịch sử quân sự Việt Nam”, GS. Trần Quốc Vượng. Lê Đình Sỹ, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, Tập II.
Cuốn sách này không khẳng định việc có thể đồng nhất hai nhân vật: “Phạm Tu và Lý Phục Man là một hay hai người và quan hệ với nhau như thế nào, đấy là một vấn đề được đặt ra từ rất lâu, nhưng chưa đủ cứ liệu khoa học để kết luận.” Nhưng chính trong cuốn sách này lại có nhiều chỗ dùng thông tin về Lý Phục Man ở Yên Sở rồi thay tên Phạm Tu vào, theo kiểu “râu ông nọ cắm cằm bà kia”. Đơn cử như câu: “Năm 1016, vua Lý Thái Tổ qua bến Cổ Sở, đã sai lập đền thờ và đắp tượng Phạm Tu.” (xem tr. 53 trích Toàn thư ghi sự việc này không phải là Phạm Tu).
4. “Hành trình về làng Việt cổ”, Bùi Xuân Đính, Nxb. Từ điển bách khoa, H. 2008, tập I (xem tr. 12).
5. “Sự tích đức thánh Giá”, Yên Sơn Nguyễn Bá Hân, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2009.
Trong Thiên Nam minh giám cũng có viết đến Phạm Tu, (Tiền Nam đế dâng công mở nước/ Tôi thuẫn thành dùng được Phục, Tu) ở chú thích của soạn giả Hoàng Thị Ngọ cho là Phạm Tu quê ở Yên Sở, Hoài Đức. (tr. 24)
Còn một số cuốn nêu lên nghi vấn mà không nêu ra được cơ sở để khẳng định tính khoa học của vấn đề đồng nhất như:
-“Địa chí Hà Tây” của Sở Văn hóa thông tin Hà Tây, 2007. Cuốn này nêu rõ: “Chính sử nước ta và sử Trung Quốc (Lương thư) chỉ chép duy nhất có một vị tướng tham gia đánh Lâm Ấp là Phạm Tu. Có thể Phạm Tu sau này được ban quốc tính và được đặt tên là Lý Phục Man.” Nghi vấn này được dẫn từ cuốn “Lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỷ X”, Đỗ Văn Ninh, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1999.
...
Ngoài ra, theo thông tin từ Nxb. Hà Nội, còn có một cuốn sách xuất bản nhân dịp kỷ niệm Đại lễ 1000 năm Thăng Long: “Thăng Long-Hà Nội những trang sử vẻ vang chống ngoại xâm” của PGS, TS Lê Đình Sỹ. Trong buổi họp nghiệm thu bản thảo có nhận xét của PGS, TS. Viện trưởng Viện Sử học Nguyễn Văn Nhật là: Một số khái niệm cần thống nhất: Lý Phục Man và Phạm Tu, là một người hay 2 người (Tr. 47, 48), … . Đặc biệt là ý kiến của GS Phan Huy Lê kết luận: “Quan điểm về Phạm Tu và Lý Phục Man là 1 người hay 2 người hiện nay chưa thống nhất, tác giả không nên khẳng định.”
Chúng tôi đã gửi bản thảo chuyên đề này đến Nxb. Hà Nội nhưng sách đã xuất bản mà vẫn chưa có hồi âm.
Hàng loạt sách về Thăng Long-Hà Nội phục vụ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội cũng sẽ đề cập đến một nhân vật lịch sử hàng đầu của Thăng Long-Hà Nội xưa, đó chính là tướng quân Phạm Tu. Tiêu biểu có cuốn 36 danh tướng Thăng Long-Hà Nội. Đặc biệt cuốn Danh nhân quân sự Việt Nam (thời Âu Lạc đến Tiền Lê) do Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam chỉ đạo, TS. Lê Văn Thái chủ biên đã đánh giá cao vai trò của Danh tướng Phạm Tu (476-545) đối với Dân tộc, một vị Tổng chỉ huy là anh hùng liệt sỹ. Trong tập sách có 17 danh nhân (gồm 9 vị quân vương và 8 Danh tướng) đã có 3 vị danh tướng họ Phạm là dòng dõi Phạm Tu (Theo thứ tự có: 6. Phạm Tu; 14. Phạm Bạch Hổ; 16. Phạm Cự Lạng.)
Tóm lại: Các cuốn sử lớn của nước ta và hệ thống sách giáo khoa đều không đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu. Chủ biên sách và các tác giả có nhiều nhà nghiên cứu uy tín trong giới khoa học qua nhiều tác phẩm không thể hiện việc đồng nhất. Chúng ta thấy tên nhiều nhà khoa học trong số các vị: GS. Nguyễn Văn Huyên (1908-1975), GS. Trần Quốc Vượng (1934-2005), Vũ Tuân Sán (sinh 1915), GS. Vũ Khiêu (sinh 1916), GS. Đinh Xuân Lâm (sinh 1925), GS. Vũ Ngọc Khánh (sinh 1927), Nguyễn Vinh Phúc (sinh 1927), Trương Hữu Quýnh (sinh 1935), Ngô Đức Thọ (sinh 1936), Trần Lê Sáng, Hà Văn Thư, Trần Hồng Đức, Hồ Phương Lan, Giang Quân, Đặng Việt Thủy, PGS. TS. Vũ Văn Quân (sinh 1963), … Trong đó các vị “tứ trụ” “Lâm, Lê, Tấn, Vượng” (tức gồm các Giáo sư: Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn và Trần Quốc Vượng) của sử học Việt Nam đương đại đều quan tâm đến vấn đề đồng nhất mà sao vẫn chưa có kết luận vấn đề?
Việc đồng nhất chỉ có ở một vài tác phẩm với những tác giả cụ thể. Cả năm cuốn sách đồng nhất đều không đưa ra căn cứ để xác định tính khoa học của việc đồng nhất do vậy chỉ là những nghi vấn đang cần các nhà khoa học lý giải.
Tài liệu tham khảo
Một số cuốn sách nêu trên; Lão tướng Phạm Tu của GS. Lê Văn Lan
Các bài báo có trong phụ lục.
Blog NLG: http://nguyenthedung.vnweblogs.com/
Các trang web:
http://thanglonghanoi.gov.vn/; http://www.vinabook.com/; http://www.nxbhanoi.com.vn/; http://www.quansuvn.net/; http://www.lichsuvietnam.info/; http://vi.wikipedia.org/; …
Nhãn:
Đi tìm cơ sở,
Tháp Bút
TÌM CƠ SỞ ĐỒNG NHẤT TỪ VĂN BIA QUÁN GIÁ
Ngày 04. 10. 2009
Chúng tôi tìm đọc cuốn “Văn bia Quán Giá” với hy vọng tư liệu từ Quán Giá có đủ sức thuyết phục Phạm Tu và Lý Phục Man là một người. Chúng ta tin tưởng vào các văn bia thời xưa để lại nhiều thông tin giá trị. Những văn bia ở đền thờ Lý Phục Man sẽ là căn cứ xác định vấn đề có thể đồng nhất được hai nhân vật là một hay không?
Tư liệu rất quan trọng tại Quán Giá, đền thờ của Lý Phục Man là 5 văn bia: Bia thời Vĩnh Tộ 1620, bia thời Cảnh Trị 1670, bia thời Bảo Thái 1728, bia thời Gia Long 1803, bia thời Tự Đức 1855. Không thể tìm ra một chữ nào ở 5 văn bia đó viết về Phạm Tu. PGS. TS. Trương Sỹ Hùng đã viết “còn năm bài văn khắc Hán Nôm trên bia đá ở Yên Sở và phần lớn các thần tích chỉ nói đến đại từ chung là đại vương hoặc cặp từ vinh danh thần.” (xem tr. 28)
Khi đọc phần dịch nghĩa bia Bảo Thái (1728) xuất hiện chú thích đáng lưu ý của ông Nguyễn Bá Hân ở hai trang 173, 174:
Ở trang 173 (dịch từ đoạn chữ Nho ở trang 152): Nãi tuyên chế sử Tổng Soái chư tướng vãng ngự chi Toại đại phá Lâm Ấp vu Cửu Đức
…Thần quyền Thống lĩnh các chư tướng đem quân đi đánh. Thần đã đại phá quân Lâm ấp ở Cửu Đức(1)…
…Vì tướng công đã quét sạch được quân rợ nên nhà vua bèn cho tước hiệu là Phục Man (tức là người dẹp
________
(1) Trong Toàn thư ghi đúng tên là Phạm Tu đánh quân Lâm Ấp ở Cửu Đức.
173
Xem trang cuối trang 173, đầu trang 174 (dịch từ đoạn chữ Nho ở trang 153): Nãi dĩ kỳ đa phục man di chi công Tứ danh Phục Man Tứ tính Lý Thị Thượng công chúa Siêu thăng Thiếu Úy tham nghị mộ phủ Nghị thị bách liêu
yên quân man rợ) cho thần được đổi họ theo nhà vua là họ Lý; lại gả công chúa cho Thần và phong làm Thiếu Úy(1) tham nghị việc triều chính, đứng đầu các quan(2)
…
________
(1) Trong hai bia trước là Vĩnh Tộ (1620) và Cảnh Trị (1670) đều ghi là Thái Úy nhưng đây lại ghi là Thiếu Úy có lẽ xưa không phân biệt Thái và Thiếu.
(2) Theo Toàn thư thì Thần đứng đầu hàng võ.
174
Bia năm Bảo Thái thứ 9 (1728) chép lại sự tích miếu thờ Thần theo các bia cũ. Bia này cho hay: Thần thống lĩnh chư tướng đi Cửu Đức đánh thắng Lâm Ấp. Ông Nguyễn Bá Hân đối chiếu với Toàn thư, thời đó có Phạm Tu cũng đem quân đi Cửu Đức đánh tan quân Lâm Ấp. Do vậy chú thích số (2) ở trang 174, ông Nguyễn Bá Hân đã đồng nhất thần Lý Phục Man với Phạm Tu một cách quá giản đơn: a=A (chữ a viết thường cũng là chữ A viết hoa). Thực tế Toàn thư chép Phạm Tu đứng đầu ban Võ mà không liên quan gì đến thần Lý Phục Man. (xem tr. 53 trích Toàn thư)
Có thể nhận ra ông Nguyễn Bá Hân đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu dựa trên các điểm:
- Cùng là võ tướng thời Lý Nam Đế (đều ghi trong chính sử nhưng có khác là Lý Phục Man xuất hiện trong giấc mộng của Lý Thái Tổ sau ngót 500 năm)
- Theo thần tích Lý Phục Man đứng đầu trăm quan; còn theo chính sử Phạm Tu đứng đầu các võ tướng
- Đều là thống soái đi đánh Lâm Ấp ở Cửu Đức
Nhưng ở trong trường hợp này ông Nguyễn Bá Hân nên dùng chữ “có thể” để nói lên nghi vấn của mình thì hợp lý hơn.
Nếu thông tin trên đều là ghi chép trong chính sử thì không ai còn phải bàn cãi, việc đồng nhất như thế sẽ đúng đắn. Khi tất cả thần tích, tư liệu của các địa phương không xác định được quê hương của Phạm Tu thì mới dễ bề đồng nhất hai nhân vật. Nhưng điều đó đã không xảy ra khi đại đa số các nhà khoa học hiện nay đã xác định quê hương của Phạm Tu ở Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Trong khi các nhà khoa học còn nghi vấn: có thể Lý Phục Man không phải là nhân vật lịch sử. Thay vì việc trước tiên phải chứng minh Lý Phục Man là nhân vật lịch sử, bằng cách đồng nhất vị thần này với danh tướng Phạm Tu, có thể đã làm lạc hướng chú ý.
Khi muốn khẳng định Lý Phục Man là Phạm Tu, trước hết phải chứng minh được sự đúng đắn ghi trên bia về việc: chỉ có duy nhất Lý Phục Man thống suất cầm quân đánh thắng Lâm Ấp là điều có thật. Trước hết là phải chứng minh không ở địa phương nào ngoài Yên Sở có tướng quân Phạm Tu thời Lý Nam Đế.
Việc Lý Phục Man đánh Lâm Ấp có thể xảy ra bởi ra trận không thể có một tướng Phạm Tu như ghi trong chính sử. Còn Lý Phục Man là thống suất đánh Lâm Ấp, rồi đứng đầu trăm quan có lẽ chính là dựa vào việc vua chúa thời sau sắc phong bổ sung chức Thái úy cho thần Lý Phục Man, từ đó người ta luận ra ông võ tướng này xứng với vị trí của Phạm Tu hơn cả (Đề cao hết tầm một võ tướng, ắt người đó là tứ trụ triều đình thống lĩnh quân đội). Lịch sử Việt Nam có Phạm Cự Lượng (944-?) là người đầu tiên được phong Thái úy vào năm 986 dưới triều Tiền Lê. Ngay triều trước-thời Đinh Tiên Hoàng, người có vị trí đứng đầu quân đội là Lê Hoàn được gọi là Thập đạo tướng quân.
Thư tịch quan trọng nữa của Quán Giá chính là Thần phả, có thể cả Thần phả Quán Giá cũng không có chỗ nào đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu. Điều đó được thể hiện: nếu có ghi việc đồng nhất trong thần phả, chắc chắn ông Nguyễn Bá Hân không thể không ghi câu trích dẫn trong cuốn “Văn bia Quán Giá” và cả NLG sẽ lấy làm căn cứ ngay từ đầu các bài viết của mình.
Tiếc thay, chỉ tư liệu về văn bia Quán Giá chưa đủ khẳng định. Nhưng cuốn sách về chủ đề này lại gặp phải một số vấn đề khiến độ tin cậy có phần bị ảnh hưởng khi người biên tập chính là tác giả Nguyễn Bá Hân có giấy phép xuất bản số 200/CXB, ngày 30/6/1994 in tại xưởng in Nxb. Thế giới và cuốn sách đã bộc lộ một số điểm bất cập:
Tên sách không thống nhất:
- Trang bìa: Văn bia Quán Giá
- Trang cuối: Văn bia đền thờ Phục Man tướng công Phạm Tu
Có tư liệu không rõ xuất xứ:
- “Sự tích tướng công Lý Phục Man” từ trang 259-265 được cho là tư liệu lưu tại Phòng Bảo tàng Quán Giá với nguồn tư liệu từ thần phả, văn bia và sử (xem tr. 13). Do không có giá trị về sử học và có xuất xứ không rõ ràng, không thấy tên tác giả, thời gian xuất hiện. Chúng tôi đã trình bày 8 điểm còn chưa thuận trong Sự tích (xem tr. 85-90).
- Trang 8 có một bức ảnh gây sự hiểu lầm GS. Phan Huy Lê xác nhận ảnh Quán Giá là đền thờ Phạm Tu.
(có in ảnh Quán Giá) với hai dòng ghi phía dưới:
1. Đền thờ Phục Man Tướng Công Phạm Tu
Ảnh: Phan Huy Lê
Có lẽ ông Nguyễn Bá Hân đã sử dụng ảnh của GS. Phan, nhưng chắc chắn GS. Phan không đủ cơ sở khoa học cho rằng đó là đền thờ Phạm Tu. Trong lời giới thiệu của GS. Phan cũng hoàn toàn không có ý nào nói về Phạm Tu (GS. Phan viết: “Nội dung văn bia là những tư liệu vô cùng quý giá ghi lại sự tích của Lý Phục Man, một số sự kiện lịch sử của làng cùng với việc tu tạo đình quán, chép lại một số quy ước, tập quán và lệnh chỉ, sắc phong của làng”) và GS. Phan còn nhấn mạnh cuối lời giới thiệu: “Tôi tin rằng cuốn sách Văn bia Quán Giá của ông Nguyễn Bá Hân sẽ giúp cho các thế hệ nhân dân làng Giá tự tìm hiểu về quê hương yêu dấu của mình và cung cấp một số tư liệu cho các nhà khoa học nghiên cứu về nông thôn và làng xã trên nhiều lĩnh vực”. Có thể khi viết lời giới thiệu cuốn “Văn bia Quán Giá”, GS. Phan đã không được xem một số nội dung mà chúng ta thấy bất cập ở trên?
(Ngày 12/11/2010 TB tìm các tư liệu liên quan tại Thư viện Quốc gia, các bản sao xem phần phụ lục để hiểu rõ hơn vấn đề này.)
Chúng tôi tìm đọc cuốn “Văn bia Quán Giá” với hy vọng tư liệu từ Quán Giá có đủ sức thuyết phục Phạm Tu và Lý Phục Man là một người. Chúng ta tin tưởng vào các văn bia thời xưa để lại nhiều thông tin giá trị. Những văn bia ở đền thờ Lý Phục Man sẽ là căn cứ xác định vấn đề có thể đồng nhất được hai nhân vật là một hay không?
Tư liệu rất quan trọng tại Quán Giá, đền thờ của Lý Phục Man là 5 văn bia: Bia thời Vĩnh Tộ 1620, bia thời Cảnh Trị 1670, bia thời Bảo Thái 1728, bia thời Gia Long 1803, bia thời Tự Đức 1855. Không thể tìm ra một chữ nào ở 5 văn bia đó viết về Phạm Tu. PGS. TS. Trương Sỹ Hùng đã viết “còn năm bài văn khắc Hán Nôm trên bia đá ở Yên Sở và phần lớn các thần tích chỉ nói đến đại từ chung là đại vương hoặc cặp từ vinh danh thần.” (xem tr. 28)
Khi đọc phần dịch nghĩa bia Bảo Thái (1728) xuất hiện chú thích đáng lưu ý của ông Nguyễn Bá Hân ở hai trang 173, 174:
Ở trang 173 (dịch từ đoạn chữ Nho ở trang 152): Nãi tuyên chế sử Tổng Soái chư tướng vãng ngự chi Toại đại phá Lâm Ấp vu Cửu Đức
…Thần quyền Thống lĩnh các chư tướng đem quân đi đánh. Thần đã đại phá quân Lâm ấp ở Cửu Đức(1)…
…Vì tướng công đã quét sạch được quân rợ nên nhà vua bèn cho tước hiệu là Phục Man (tức là người dẹp
________
(1) Trong Toàn thư ghi đúng tên là Phạm Tu đánh quân Lâm Ấp ở Cửu Đức.
173
Xem trang cuối trang 173, đầu trang 174 (dịch từ đoạn chữ Nho ở trang 153): Nãi dĩ kỳ đa phục man di chi công Tứ danh Phục Man Tứ tính Lý Thị Thượng công chúa Siêu thăng Thiếu Úy tham nghị mộ phủ Nghị thị bách liêu
yên quân man rợ) cho thần được đổi họ theo nhà vua là họ Lý; lại gả công chúa cho Thần và phong làm Thiếu Úy(1) tham nghị việc triều chính, đứng đầu các quan(2)
…
________
(1) Trong hai bia trước là Vĩnh Tộ (1620) và Cảnh Trị (1670) đều ghi là Thái Úy nhưng đây lại ghi là Thiếu Úy có lẽ xưa không phân biệt Thái và Thiếu.
(2) Theo Toàn thư thì Thần đứng đầu hàng võ.
174
Bia năm Bảo Thái thứ 9 (1728) chép lại sự tích miếu thờ Thần theo các bia cũ. Bia này cho hay: Thần thống lĩnh chư tướng đi Cửu Đức đánh thắng Lâm Ấp. Ông Nguyễn Bá Hân đối chiếu với Toàn thư, thời đó có Phạm Tu cũng đem quân đi Cửu Đức đánh tan quân Lâm Ấp. Do vậy chú thích số (2) ở trang 174, ông Nguyễn Bá Hân đã đồng nhất thần Lý Phục Man với Phạm Tu một cách quá giản đơn: a=A (chữ a viết thường cũng là chữ A viết hoa). Thực tế Toàn thư chép Phạm Tu đứng đầu ban Võ mà không liên quan gì đến thần Lý Phục Man. (xem tr. 53 trích Toàn thư)
Có thể nhận ra ông Nguyễn Bá Hân đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu dựa trên các điểm:
- Cùng là võ tướng thời Lý Nam Đế (đều ghi trong chính sử nhưng có khác là Lý Phục Man xuất hiện trong giấc mộng của Lý Thái Tổ sau ngót 500 năm)
- Theo thần tích Lý Phục Man đứng đầu trăm quan; còn theo chính sử Phạm Tu đứng đầu các võ tướng
- Đều là thống soái đi đánh Lâm Ấp ở Cửu Đức
Nhưng ở trong trường hợp này ông Nguyễn Bá Hân nên dùng chữ “có thể” để nói lên nghi vấn của mình thì hợp lý hơn.
Nếu thông tin trên đều là ghi chép trong chính sử thì không ai còn phải bàn cãi, việc đồng nhất như thế sẽ đúng đắn. Khi tất cả thần tích, tư liệu của các địa phương không xác định được quê hương của Phạm Tu thì mới dễ bề đồng nhất hai nhân vật. Nhưng điều đó đã không xảy ra khi đại đa số các nhà khoa học hiện nay đã xác định quê hương của Phạm Tu ở Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Trong khi các nhà khoa học còn nghi vấn: có thể Lý Phục Man không phải là nhân vật lịch sử. Thay vì việc trước tiên phải chứng minh Lý Phục Man là nhân vật lịch sử, bằng cách đồng nhất vị thần này với danh tướng Phạm Tu, có thể đã làm lạc hướng chú ý.
Khi muốn khẳng định Lý Phục Man là Phạm Tu, trước hết phải chứng minh được sự đúng đắn ghi trên bia về việc: chỉ có duy nhất Lý Phục Man thống suất cầm quân đánh thắng Lâm Ấp là điều có thật. Trước hết là phải chứng minh không ở địa phương nào ngoài Yên Sở có tướng quân Phạm Tu thời Lý Nam Đế.
Việc Lý Phục Man đánh Lâm Ấp có thể xảy ra bởi ra trận không thể có một tướng Phạm Tu như ghi trong chính sử. Còn Lý Phục Man là thống suất đánh Lâm Ấp, rồi đứng đầu trăm quan có lẽ chính là dựa vào việc vua chúa thời sau sắc phong bổ sung chức Thái úy cho thần Lý Phục Man, từ đó người ta luận ra ông võ tướng này xứng với vị trí của Phạm Tu hơn cả (Đề cao hết tầm một võ tướng, ắt người đó là tứ trụ triều đình thống lĩnh quân đội). Lịch sử Việt Nam có Phạm Cự Lượng (944-?) là người đầu tiên được phong Thái úy vào năm 986 dưới triều Tiền Lê. Ngay triều trước-thời Đinh Tiên Hoàng, người có vị trí đứng đầu quân đội là Lê Hoàn được gọi là Thập đạo tướng quân.
Thư tịch quan trọng nữa của Quán Giá chính là Thần phả, có thể cả Thần phả Quán Giá cũng không có chỗ nào đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu. Điều đó được thể hiện: nếu có ghi việc đồng nhất trong thần phả, chắc chắn ông Nguyễn Bá Hân không thể không ghi câu trích dẫn trong cuốn “Văn bia Quán Giá” và cả NLG sẽ lấy làm căn cứ ngay từ đầu các bài viết của mình.
Tiếc thay, chỉ tư liệu về văn bia Quán Giá chưa đủ khẳng định. Nhưng cuốn sách về chủ đề này lại gặp phải một số vấn đề khiến độ tin cậy có phần bị ảnh hưởng khi người biên tập chính là tác giả Nguyễn Bá Hân có giấy phép xuất bản số 200/CXB, ngày 30/6/1994 in tại xưởng in Nxb. Thế giới và cuốn sách đã bộc lộ một số điểm bất cập:
Tên sách không thống nhất:
- Trang bìa: Văn bia Quán Giá
- Trang cuối: Văn bia đền thờ Phục Man tướng công Phạm Tu
Có tư liệu không rõ xuất xứ:
- “Sự tích tướng công Lý Phục Man” từ trang 259-265 được cho là tư liệu lưu tại Phòng Bảo tàng Quán Giá với nguồn tư liệu từ thần phả, văn bia và sử (xem tr. 13). Do không có giá trị về sử học và có xuất xứ không rõ ràng, không thấy tên tác giả, thời gian xuất hiện. Chúng tôi đã trình bày 8 điểm còn chưa thuận trong Sự tích (xem tr. 85-90).
- Trang 8 có một bức ảnh gây sự hiểu lầm GS. Phan Huy Lê xác nhận ảnh Quán Giá là đền thờ Phạm Tu.
(có in ảnh Quán Giá) với hai dòng ghi phía dưới:
1. Đền thờ Phục Man Tướng Công Phạm Tu
Ảnh: Phan Huy Lê
Có lẽ ông Nguyễn Bá Hân đã sử dụng ảnh của GS. Phan, nhưng chắc chắn GS. Phan không đủ cơ sở khoa học cho rằng đó là đền thờ Phạm Tu. Trong lời giới thiệu của GS. Phan cũng hoàn toàn không có ý nào nói về Phạm Tu (GS. Phan viết: “Nội dung văn bia là những tư liệu vô cùng quý giá ghi lại sự tích của Lý Phục Man, một số sự kiện lịch sử của làng cùng với việc tu tạo đình quán, chép lại một số quy ước, tập quán và lệnh chỉ, sắc phong của làng”) và GS. Phan còn nhấn mạnh cuối lời giới thiệu: “Tôi tin rằng cuốn sách Văn bia Quán Giá của ông Nguyễn Bá Hân sẽ giúp cho các thế hệ nhân dân làng Giá tự tìm hiểu về quê hương yêu dấu của mình và cung cấp một số tư liệu cho các nhà khoa học nghiên cứu về nông thôn và làng xã trên nhiều lĩnh vực”. Có thể khi viết lời giới thiệu cuốn “Văn bia Quán Giá”, GS. Phan đã không được xem một số nội dung mà chúng ta thấy bất cập ở trên?
(Ngày 12/11/2010 TB tìm các tư liệu liên quan tại Thư viện Quốc gia, các bản sao xem phần phụ lục để hiểu rõ hơn vấn đề này.)
Nhãn:
Đi tìm cơ sở,
Tháp Bút
ĐIỀU RÚT RA TỪ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ LÝ PHỤC MAN CỦA GS. NGUYỄN VĂN HUYÊN
Giáo sư Nguyễn Văn Huyên (1908-1975) là một nhà nghiên cứu văn hóa lớn của Việt Nam. Ngay từ cuối những năm 30 của thế kỷ XX, ông đã công bố công trình nghiên cứu có giá trị “Góp phần nghiên cứu một vị thành hoàng Việt Nam: Lý Phục Man”. Chính nhờ công trình nghiên cứu này mà di tích thờ Lý Phục Man ở xã Yên Sở, Hoài Đức được tu tạo mặc dù bị giặc Pháp tàn phá hầu như hoàn toàn vào năm 1947.
Sau khi đã nêu quan điểm chứng minh không đồng nhất lão tướng Phạm Tu với phò mã Lý Phục Man trên trang web http://hophamvietnam.org/, chúng tôi thấy cần tìm hiểu kỹ các thông tin về Lý Phục Man để có thêm phần sáng tỏ vấn đề lịch sử còn tranh chấp này.
Công trình của GS. Nguyễn Văn Huyên là một nghiên cứu đầy đủ sáng tỏ nhất về vị thành hoàng Lý Phục Man và di tích Quán Giá . Qua tác phẩm này, cho thấy:
-Lý Phục Man là một nhân vật mang đậm tính truyền thuyết hơn là nhân vật lịch sử: Cụ thể chúng ta thấy: từ thời Lý Nam Đế đến thời Lý Thái Tổ không hề nói đến Lý Phục Man. Chỉ xuất hiện lần đầu trong giấc mộng của Lý Thái Tổ và sau đó ghi trong “Việt Điện u linh” của quan Phụng ngự Lý Tế Xuyên vào khoảng năm 1329.
-Về cái chết của Lý Phục Man cũng không thống nhất:
1. Lý Phục Man thua quân Lâm Ấp nên tự sát;
2. Lý Phục Man bị thua ở Khuất Lạo nên tự sát (mất khoảng 546-548);
3. Lý Phục Man bị chém đầu nhưng vẫn cưỡi ngựa về làng.
Lưu ý: không có sự việc Lý Phục Man hy sinh năm 545 ở chiến thành cửa sông Tô Lịch. Các văn bia, đại tự, câu đối ở Quán Giá không nói lên điều này.
-Ở Bắc bộ có đến hàng chục nơi thờ Lý Phục Man và qua các triều vua đã phong tặng cho Lý Phục Man đến hơn năm chục tên gọi (mỹ tự) mà hoàn toàn không gọi là Đô Hồ Đại vương hoặc Long Biên hầu như của Phạm Tu.
-Toàn bộ tác phẩm gần 200 trang, không thấy GS. Nguyễn Văn Huyên nêu tên tướng quân Phạm Tu và hoàn toàn cũng không nêu việc đồng nhất Lý Phục Man với bất cứ một nhân vật lịch sử nào ở thời Lý Nam Đế.
-Về phu nhân của Lý Phục Man là công chúa Phương Dung, theo tác giả thì đây là “mong muốn” của người dân.
Từ các tư liệu mà GS. Nguyễn Văn Huyên dày công nghiên cứu, chợt nghĩ: Không biết có phải Lý Phục Man chỉ là vị thần hoàn toàn không phải là nhân vật lịch sử? Để sức mạnh tinh thần ấy có chỗ dựa vững chắc, người đời tìm một nhân vật lịch sử để đồng nhất và thế là họ đã chọn lão tướng Phạm Tu.
Sau khi đã nêu quan điểm chứng minh không đồng nhất lão tướng Phạm Tu với phò mã Lý Phục Man trên trang web http://hophamvietnam.org/, chúng tôi thấy cần tìm hiểu kỹ các thông tin về Lý Phục Man để có thêm phần sáng tỏ vấn đề lịch sử còn tranh chấp này.
Công trình của GS. Nguyễn Văn Huyên là một nghiên cứu đầy đủ sáng tỏ nhất về vị thành hoàng Lý Phục Man và di tích Quán Giá . Qua tác phẩm này, cho thấy:
-Lý Phục Man là một nhân vật mang đậm tính truyền thuyết hơn là nhân vật lịch sử: Cụ thể chúng ta thấy: từ thời Lý Nam Đế đến thời Lý Thái Tổ không hề nói đến Lý Phục Man. Chỉ xuất hiện lần đầu trong giấc mộng của Lý Thái Tổ và sau đó ghi trong “Việt Điện u linh” của quan Phụng ngự Lý Tế Xuyên vào khoảng năm 1329.
-Về cái chết của Lý Phục Man cũng không thống nhất:
1. Lý Phục Man thua quân Lâm Ấp nên tự sát;
2. Lý Phục Man bị thua ở Khuất Lạo nên tự sát (mất khoảng 546-548);
3. Lý Phục Man bị chém đầu nhưng vẫn cưỡi ngựa về làng.
Lưu ý: không có sự việc Lý Phục Man hy sinh năm 545 ở chiến thành cửa sông Tô Lịch. Các văn bia, đại tự, câu đối ở Quán Giá không nói lên điều này.
-Ở Bắc bộ có đến hàng chục nơi thờ Lý Phục Man và qua các triều vua đã phong tặng cho Lý Phục Man đến hơn năm chục tên gọi (mỹ tự) mà hoàn toàn không gọi là Đô Hồ Đại vương hoặc Long Biên hầu như của Phạm Tu.
-Toàn bộ tác phẩm gần 200 trang, không thấy GS. Nguyễn Văn Huyên nêu tên tướng quân Phạm Tu và hoàn toàn cũng không nêu việc đồng nhất Lý Phục Man với bất cứ một nhân vật lịch sử nào ở thời Lý Nam Đế.
-Về phu nhân của Lý Phục Man là công chúa Phương Dung, theo tác giả thì đây là “mong muốn” của người dân.
Từ các tư liệu mà GS. Nguyễn Văn Huyên dày công nghiên cứu, chợt nghĩ: Không biết có phải Lý Phục Man chỉ là vị thần hoàn toàn không phải là nhân vật lịch sử? Để sức mạnh tinh thần ấy có chỗ dựa vững chắc, người đời tìm một nhân vật lịch sử để đồng nhất và thế là họ đã chọn lão tướng Phạm Tu.
Nhãn:
Đi tìm cơ sở,
Tháp Bút
CÓ ĐỒNG NHẤT TẢ TƯỚNG PHẠM TU VỚI PHÒ MÃ LÝ PHỤC MAN ĐƯỢC KHÔNG?
Nội dung chính đã đăng trong bài báo “Phạm Tu không phải Lý Phục Man” trên báo QĐND cuối tuần số 692 ra ngày 05/4/2009
Trong các tài liệu lịch sử để lại, có một số nhân vật lịch sử của nước ta còn chưa thống nhất về tên tuổi. Trong đó, trường hợp hiếm có là việc một số tài liệu đồng nhất hai nhân vật lịch sử cách đây 15 thế kỷ: lão tướng Phạm Tu (476-545) và phò mã Lý Phục Man. Do tư liệu về giai đoạn này còn lại không nhiều nên phải suy luận từ những gì còn ghi lại với mục đích tìm ra điều chân thực. Đồng thời cũng để xem xét những thông tin mà người đời sau bổ sung có phù hợp với đời sống thời Lý Nam Đế hay không.
Vào năm 544, Nhà nước Vạn Xuân được Lý Bí (503-548) thành lập có hai ban Văn Võ. Lão tướng Phạm Tu đứng đầu Ban Võ. Thời đó còn có một danh tướng Lý Phục Man: «ông được gả công chúa Lý Nương, ban cho ông họ Lý và chức Thiếu uý, được gọi là Phục Man tướng quân. Trở về quê quản lĩnh vùng đất Đỗ Động, Đường Lâm.»
Giáo sư Sử học Lê Văn Lan viết: «…Còn trong bộ “TỪ ĐIỂN NHÂN VẬT LỊCH SỬ VIỆT NAM” (Nxb. Khoa học xã hội, H., 1991, tr. 744): “Quê làng Giá, thuộc xã Yên Sở, huyện Hoài Đức, Hà Nội. Ông được vua Lý phong tước Phục Man tướng quân, đổi theo họ vua là Lý, nên cũng gọi là Lý Tu hay Lý Phục Man, lại được vua gả công chúa Phương Dung cho... Mộ và đền thờ ông nay hãy còn di tích tại quê ông ở làng Giá.”
Như vậy ở đây có việc đồng nhất Phạm Tu với một vị thần là Lý Phục Man, được sách cổ “VIỆT ĐIỆN U LINH” chép từ đầu thế kỷ 14, và là vấn đề sử học được nêu ra đã lâu nhưng chưa được giải quyết.»
Để tìm hiểu việc đồng nhất này, chúng ta thử dùng phương pháp “phản chứng” tạm giả thiết: lão tướng Phạm Tu chính là phò mã Lý Phục Man. Nếu vậy thì:
1. Một vị đứng đầu Ban Võ của Nhà nước Vạn Xuân-Tả tướng Phạm Tu, (Lý Phục Man) “được cử làm tướng quân coi giữ một miền biên cảnh”? Có hẳn một Ban Võ, thì chắc chắn Nhà nước Vạn Xuân không thể để Lão tướng đứng đầu Ban Võ đi giữ biên cảnh phía Tây (Đỗ Động, Đường Lâm), trong khi vùng trọng yếu hơn vẫn là phía Bắc.
2. Lý Nam Đế gả công chúa Phương Dung (Lý Nương) cho Phạm Tu sao? Nếu có sự kiện này chỉ có thể xảy ra từ năm 542 đến 545. Để làm rõ điều này chúng ta xét năm sinh của Lý Bí là 503; của Phạm Tu là 476; như vậy Phạm Tu hơn Lý Bí 27 tuổi. Nếu sớm nhất là năm 542, Lý Bí gả công chúa cho Phạm Tu (Lý Phục Man), lúc này Phạm Tu đã 67 tuổi; Lý Bí 40 tuổi và con gái của Lý Bí chắc cũng khoảng mười chín, đôi mươi. Một công chúa trẻ vậy mà Hoàng đế lại gả cho Lão tướng đáng tuổi cha mình, đáng tuổi ông của công chúa sao?
Việc ban quốc tính thực hiện đại trà ở thời Lê Thái Tổ, ở thời hậu Lý không phổ biến mà nhà vua thường ban cho một số nhân vật tiêu biểu. Còn thời tiền Lý trước đó hơn 5 thế kỷ, không lẽ Lý Nam Đế thiên vị: ban cho Tả tướng Phạm Tu quốc tính là Lý Tu, mà Trưởng Ban Văn-Tinh Thiều, Thái phó-Triệu Túc không được ban quốc tính?
Trong khi đó từ khi Lý Bí khởi nghĩa (541) đến lúc ông mất (548) là bảy năm, mà Phạm Tu là lão tướng còn phò mã Lý Phục Man là vị tướng trẻ tuổi. Không hiểu vì “cơn cớ” gì mà chúng ta có thể chấp nhận hai người này là một? Xét theo tuổi tác, các nhân vật thời này có thể chia hai thế hệ:
1. Phạm Tu (476-545), Triệu Túc, Tinh Thiều (2 vị này có thể ở đầu thế hệ thứ 2)
2. Lý Thiên Bảo (499-555), Lý Bí (503-548), Phạm Tĩnh (theo tư liệu dòng họ: ông là con Phạm Tu), Lý Phục Man , Triệu Quang Phục (?-571), Lý Phật Tử (?-602-?) , …
Điều chúng ta có thể thấy: Lý Phục Man là một tướng quân trẻ tuổi, tài giỏi nên được Lý Nam Đế gả công chúa. Vùng phò mã cai quản cũng là vùng quê của Lý Bí. Có phải chính Lý Phục Man là người bảo vệ bên cạnh Lý Nam Đế, rồi sau về động Khuất Liêu. Nên rất có thể Lý Nam Đế và Lý Phục Man cùng mất năm 548 ở động Khuất Liêu.
Từ những suy luận nêu trên cho thấy: việc đồng nhất hai nhân vật lịch sử Phạm Tu (476-545) và Lý Phục Man (?-548) là thiếu cơ sở. Rõ ràng là cuốn “TỪ ĐIỂN NHÂN VẬT LỊCH SỬ VIỆT NAM” in năm 2006 có nêu hai nhân vật riêng biệt, không coi Phạm Tu và Lý Phục Man là một người như cuốn sách cùng tên in năm 1991. Đó là một kết luận hợp lý!
*
Theo hoạt động năm 2008 của Bộ môn Cận tâm lý thuộc Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người thì nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng đã xác định mộ của danh tướng Phạm Tu ngay trong khuôn viên trụ sở UBND thành phố Hà Nội -một ngôi mộ cổ cách nay gần 15 thế kỷ. Nếu đây là sự thật thì sẽ xóa đi việc tồn nghi cho là Lão tướng mất ở động Khuất Liêu vào năm 548 và không thể có mộ của Phạm Tu ở làng Giá (xã Yên Sở, Hoài Đức). Một lần nữa khẳng định chính xác: Lão tướng Phạm Tu (476-545) quê ở Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội. Người hy sinh trong trận chiến chống quân Lương ở chiến thành cửa sông Tô vào ngày 20 tháng 7 năm Ất Sửu (545) . Từ lúc sinh ra đến khi hiển hóa, ông đã gắn bó với mảnh đất núi Nùng sông Tô với dấu ấn không phai mờ không ai có thể phủ nhận được công lao của ông với mảnh đất này cùng sự phát triển Thăng Long Hà Nội trải qua nghìn năm văn hiến.
Bảo tàng Hà Nội vừa khánh thành nhân dịp Đại lễ 1000 năm Thăng Long. Trên tầng 2 phía trong, bên phải (theo hướng vào cửa), nơi trưng bày về các cuộc khởi nghĩa thời Bắc thuộc dành một bảng về khởi nghĩa Lý Bí, ảnh chụp bức tranh thờ Phạm Tu ở Đình Ngoại được treo trên ảnh chùa Trấn Quốc (thời đó là chùa Khai Quốc). Một vị trí có ý nghĩa khi nhìn thẳng xuống phía Nam về Thanh Liệt với cự ly 5 km.
Trong các tài liệu lịch sử để lại, có một số nhân vật lịch sử của nước ta còn chưa thống nhất về tên tuổi. Trong đó, trường hợp hiếm có là việc một số tài liệu đồng nhất hai nhân vật lịch sử cách đây 15 thế kỷ: lão tướng Phạm Tu (476-545) và phò mã Lý Phục Man. Do tư liệu về giai đoạn này còn lại không nhiều nên phải suy luận từ những gì còn ghi lại với mục đích tìm ra điều chân thực. Đồng thời cũng để xem xét những thông tin mà người đời sau bổ sung có phù hợp với đời sống thời Lý Nam Đế hay không.
Vào năm 544, Nhà nước Vạn Xuân được Lý Bí (503-548) thành lập có hai ban Văn Võ. Lão tướng Phạm Tu đứng đầu Ban Võ. Thời đó còn có một danh tướng Lý Phục Man: «ông được gả công chúa Lý Nương, ban cho ông họ Lý và chức Thiếu uý, được gọi là Phục Man tướng quân. Trở về quê quản lĩnh vùng đất Đỗ Động, Đường Lâm.»
Giáo sư Sử học Lê Văn Lan viết: «…Còn trong bộ “TỪ ĐIỂN NHÂN VẬT LỊCH SỬ VIỆT NAM” (Nxb. Khoa học xã hội, H., 1991, tr. 744): “Quê làng Giá, thuộc xã Yên Sở, huyện Hoài Đức, Hà Nội. Ông được vua Lý phong tước Phục Man tướng quân, đổi theo họ vua là Lý, nên cũng gọi là Lý Tu hay Lý Phục Man, lại được vua gả công chúa Phương Dung cho... Mộ và đền thờ ông nay hãy còn di tích tại quê ông ở làng Giá.”
Như vậy ở đây có việc đồng nhất Phạm Tu với một vị thần là Lý Phục Man, được sách cổ “VIỆT ĐIỆN U LINH” chép từ đầu thế kỷ 14, và là vấn đề sử học được nêu ra đã lâu nhưng chưa được giải quyết.»
Để tìm hiểu việc đồng nhất này, chúng ta thử dùng phương pháp “phản chứng” tạm giả thiết: lão tướng Phạm Tu chính là phò mã Lý Phục Man. Nếu vậy thì:
1. Một vị đứng đầu Ban Võ của Nhà nước Vạn Xuân-Tả tướng Phạm Tu, (Lý Phục Man) “được cử làm tướng quân coi giữ một miền biên cảnh”? Có hẳn một Ban Võ, thì chắc chắn Nhà nước Vạn Xuân không thể để Lão tướng đứng đầu Ban Võ đi giữ biên cảnh phía Tây (Đỗ Động, Đường Lâm), trong khi vùng trọng yếu hơn vẫn là phía Bắc.
2. Lý Nam Đế gả công chúa Phương Dung (Lý Nương) cho Phạm Tu sao? Nếu có sự kiện này chỉ có thể xảy ra từ năm 542 đến 545. Để làm rõ điều này chúng ta xét năm sinh của Lý Bí là 503; của Phạm Tu là 476; như vậy Phạm Tu hơn Lý Bí 27 tuổi. Nếu sớm nhất là năm 542, Lý Bí gả công chúa cho Phạm Tu (Lý Phục Man), lúc này Phạm Tu đã 67 tuổi; Lý Bí 40 tuổi và con gái của Lý Bí chắc cũng khoảng mười chín, đôi mươi. Một công chúa trẻ vậy mà Hoàng đế lại gả cho Lão tướng đáng tuổi cha mình, đáng tuổi ông của công chúa sao?
Việc ban quốc tính thực hiện đại trà ở thời Lê Thái Tổ, ở thời hậu Lý không phổ biến mà nhà vua thường ban cho một số nhân vật tiêu biểu. Còn thời tiền Lý trước đó hơn 5 thế kỷ, không lẽ Lý Nam Đế thiên vị: ban cho Tả tướng Phạm Tu quốc tính là Lý Tu, mà Trưởng Ban Văn-Tinh Thiều, Thái phó-Triệu Túc không được ban quốc tính?
Trong khi đó từ khi Lý Bí khởi nghĩa (541) đến lúc ông mất (548) là bảy năm, mà Phạm Tu là lão tướng còn phò mã Lý Phục Man là vị tướng trẻ tuổi. Không hiểu vì “cơn cớ” gì mà chúng ta có thể chấp nhận hai người này là một? Xét theo tuổi tác, các nhân vật thời này có thể chia hai thế hệ:
1. Phạm Tu (476-545), Triệu Túc, Tinh Thiều (2 vị này có thể ở đầu thế hệ thứ 2)
2. Lý Thiên Bảo (499-555), Lý Bí (503-548), Phạm Tĩnh (theo tư liệu dòng họ: ông là con Phạm Tu), Lý Phục Man , Triệu Quang Phục (?-571), Lý Phật Tử (?-602-?) , …
Điều chúng ta có thể thấy: Lý Phục Man là một tướng quân trẻ tuổi, tài giỏi nên được Lý Nam Đế gả công chúa. Vùng phò mã cai quản cũng là vùng quê của Lý Bí. Có phải chính Lý Phục Man là người bảo vệ bên cạnh Lý Nam Đế, rồi sau về động Khuất Liêu. Nên rất có thể Lý Nam Đế và Lý Phục Man cùng mất năm 548 ở động Khuất Liêu.
Từ những suy luận nêu trên cho thấy: việc đồng nhất hai nhân vật lịch sử Phạm Tu (476-545) và Lý Phục Man (?-548) là thiếu cơ sở. Rõ ràng là cuốn “TỪ ĐIỂN NHÂN VẬT LỊCH SỬ VIỆT NAM” in năm 2006 có nêu hai nhân vật riêng biệt, không coi Phạm Tu và Lý Phục Man là một người như cuốn sách cùng tên in năm 1991. Đó là một kết luận hợp lý!
*
Theo hoạt động năm 2008 của Bộ môn Cận tâm lý thuộc Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người thì nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng đã xác định mộ của danh tướng Phạm Tu ngay trong khuôn viên trụ sở UBND thành phố Hà Nội -một ngôi mộ cổ cách nay gần 15 thế kỷ. Nếu đây là sự thật thì sẽ xóa đi việc tồn nghi cho là Lão tướng mất ở động Khuất Liêu vào năm 548 và không thể có mộ của Phạm Tu ở làng Giá (xã Yên Sở, Hoài Đức). Một lần nữa khẳng định chính xác: Lão tướng Phạm Tu (476-545) quê ở Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội. Người hy sinh trong trận chiến chống quân Lương ở chiến thành cửa sông Tô vào ngày 20 tháng 7 năm Ất Sửu (545) . Từ lúc sinh ra đến khi hiển hóa, ông đã gắn bó với mảnh đất núi Nùng sông Tô với dấu ấn không phai mờ không ai có thể phủ nhận được công lao của ông với mảnh đất này cùng sự phát triển Thăng Long Hà Nội trải qua nghìn năm văn hiến.
Bảo tàng Hà Nội vừa khánh thành nhân dịp Đại lễ 1000 năm Thăng Long. Trên tầng 2 phía trong, bên phải (theo hướng vào cửa), nơi trưng bày về các cuộc khởi nghĩa thời Bắc thuộc dành một bảng về khởi nghĩa Lý Bí, ảnh chụp bức tranh thờ Phạm Tu ở Đình Ngoại được treo trên ảnh chùa Trấn Quốc (thời đó là chùa Khai Quốc). Một vị trí có ý nghĩa khi nhìn thẳng xuống phía Nam về Thanh Liệt với cự ly 5 km.
Nhãn:
Đi tìm cơ sở,
Tháp Bút
NHỮNG ĐIỀU TRÔNG THẤY TỪ VẤN ĐỀ ĐỒNG NHẤT LÝ PHỤC MAN VỚI PHẠM TU
Tháp Bút
Tóm tắt: Chúng ta đang tiến tới mốc kỷ niệm 1.500 năm khởi nghĩa Lý Bí, thành lập nước Vạn Xuân. Trên đất tiền Thăng Long - “chỗ hội tụ quan yếu của bốn phương”, vị hoàng đế đầu tiên lập nước Vạn Xuân - nhà nước đầu tiên có tổ chức bộ máy chính quyền đã định đô và lập chiến thành ở vùng đất linh thiêng đó. Trong triều đình Vạn Xuân có vị lão tướng Phạm Tu (thờ ở Đình Ngoại, xã Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội) đứng đầu quân đội là người sinh ra bên dòng sông Tô, hy sinh ngay cửa sông Tô. Võ tướng thời này còn có Lý Phục Man trấn giữ Đỗ Động, Đường Lâm, là vị thần linh thiêng thờ ở Quán Giá xã Yên Sở, Hoài Đức, Hà Nội. Mấy chục năm qua đã xuất hiện vấn đề đồng nhất hai nhân vật này, các nhà khoa học chưa đi đến thống nhất. Sử sách ghi chép ngắn gọn, trong khi tư liệu dân gian lại rất khó xác minh. Do vậy bài báo này sử dụng thông tin cốt lõi từ chính sử để làm cơ sở xem xét tính lô-gích khi đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu.
Ba mươi năm, một chặng đường dài kể từ ngày tôi cắp sách đến trường. Là cậu học trò thích đọc chuyện kể về danh nhân, nên sự kiện thành lập nhà nước Vạn Xuân có vua Lý Nam Đế và bề tôi: Triệu Túc, Tinh Thiều, Phạm Tu là điều sáng sủa, rành mạch trên trang sách nhà trường. Chính trong thời gian đó, các nhà khoa học đã công bố kết quả nghiên cứu về vấn đề phức tạp: đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu (Vấn đề đồng nhất).
Năm 1982, các nhà sử học trong và ngoài Quân đội cùng các cộng sự đã khảo sát kỹ lưỡng tại xã Thanh Liệt, Thanh Trì và xã Yên Sở, Hoài Đức. Ngày 25/12/1982, tại xã Yên Sở đã diễn ra hội thảo khoa học về Lý Phục Man. Trong Hội thảo có một số báo cáo cho rằng có thể đồng nhất hai nhân vật Phạm Tu và Lý Phục Man. Đây là vấn đề khoa học thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và cả trong giới bình dân. Như nhà sử học Lê Văn Lan đã nêu “là vấn đề sử học nêu ra đã lâu nhưng chưa được giải quyết”(1) do vậy vấn đề khoa học này không hề giản đơn nhưng cần sớm làm rõ.
Để tìm hiểu vấn đề này, trước hết chúng tôi tìm kiếm kỹ lưỡng theo các từ khóa để tới các địa chỉ trên mạng, tìm trong sách báo và đã lập nên hồ sơ tư liệu điện tử trong blog Đi tìm cơ sở đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu. Quả có nhiều mâu thuẫn và rất phức tạp đối với Vấn đề đồng nhất. Nhưng từ đó, chúng ta có đầy đủ thông tin về nguồn gốc tư liệu xuất bản để tìm từng trang sách, kiếm những bài báo liên quan được cất kỹ trong thư viện. Theo các tư liệu thu thập được chúng ta có thể thấy một số thông tin chính về Vấn đề đồng nhất:
1. Nguồn thông tin cốt lõi, chính thống theo cổ sử:
Cuốn Đại Việt sử ký toàn thư - bộ chính sử lớn của nước ta, đã ghi về danh tướng Phạm Tu như sau:
“Mùa hạ, tháng 4 năm Quý Hợi (543) vua Lâm Ấp cướp quận Nhật Nam, vua sai tướng Phạm Tu đánh tan giặc ở quận Cửu Đức”.
và:
“Mùa Xuân, tháng Giêng năm Giáp Tý (544), vua lên ngôi, xưng là Nam Việt Đế, lấy niên hiệu là Thiên Đức, đặt trăm quan, dựng quốc hiệu là Vạn Xuân là ý mong xã tắc truyền đến muôn đời vậy. Dựng điện Vạn Thọ làm nơi triều hội. Lấy Triệu Túc làm Thái Phó, lấy Tinh Thiều, Phạm Tu làm tướng văn, tướng võ.” (2)
Đó là việc chép về Phạm Tu ở giữa thế kỷ thứ VI. Danh tướng Phạm Tu là nhân vật lịch sử xuất hiện trong sự kiện cụ thể (có không gian, thời gian và địa điểm) với vị trí chỉ huy rõ ràng.
Còn về sự xuất hiện của thần Lý Phục Man: vào năm 1016, trong giấc mộng của Lý Thái Tổ cũng ghi rất cẩn thận ở cuốn Đại Việt sử ký toàn thư. Thông tin có thể đã lấy theo ghi chép của quan Ngự sử Lương Văn Nhậm cùng đi với Lý Thái Tổ và được nhà vua kể lại ngay sau giấc mộng:
Động đất. Làm lễ tế vong các danh sơn. Vua nhân đi xem núi sông, đến bến đò Cổ Sở, thấy khí tốt của núi sông, tâm thần cảm động, bèn làm lễ rưới rượu xuống đất, khấn rằng: “Trẫm xem địa phương này, núi lạ sông đẹp, nếu có nhân kiệt địa linh thì hưởng lễ”.
Đêm ấy, vua chiêm bao thấy có dị nhân đến cúi đầu lạy hai lạy, nói: “Thần là người làng này, họ Lý tên Phục Man, làm tướng giúp Nam Đế, có tiếng là người trung liệt, được giao trông coi hai dải sông núi Đỗ Động và Đường Lâm, bọn Di Lão không dám xâm phạm biên giới, một phương yên bình. Đến khi chết, thượng đế khen là trung trực, sắc cho giữ chức như cũ. Cho nên phàm giặc Man Di đến cướp đều chống giữ được cả. Nay may được bệ hạ thương đến, biết cho thần giữ chức này đã lâu rồi”. Rồi đó thung dung nói: “Thiên hạ khi mờ tối, trung thần giấu tính danh, giữa trời nhật nguyệt sáng, ai chẳng thấy dáng hình”. Vua thức dậy nói việc ấy với Ngự sử đại phu Lương Văn Nhậm rằng: “Đó là ý thần muốn tạc tượng”.(3)
¬¬¬¬¬¬¬¬Với nguồn sử liệu chính thống như vậy, trải qua 15 thế kỷ, tư liệu về Phạm Tu và Lý Phục Man được bổ sung dồi dào. Còn có những văn bản đáng quan tâm như thần tích về Đô Hồ Đại vương Phạm Tu ở Đình Ngoại và bộ tư liệu về Lý Phục Man gồm thần tích, văn bia ở Quán Giá. Ngoài ra còn có một số thông tin, tư liệu có thể được bổ sung theo truyền ngôn ở địa phương hoặc sáng tác văn học.
Sau đây là thống kê những ấn phẩm tiêu biểu có thể hiện việc đồng nhất qua các cuốn sách cùng các bài nghiên cứu về vấn đề liên quan:
2. Vấn đề đồng nhất qua một số ấn phẩm tiêu biểu:
Số 1. Cuốn Đình Yên Sở của Ty Văn hóa-thông tin Hà Tây viết năm 1968.
Số 2. Bài báo đầu tiên thể hiện đồng nhất có tên “Phạm Tu với nhà nước Vạn Xuân” của Đàm Hưng đăng trên trang 2 báo Hà Nội mới ngày 11/9/1983: Trong bài báo nêu rõ thân thế sự nghiệp của Phạm Tu cơ bản theo thần tích Đình Ngoại, xã Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội và khẳng định quê ông ở đây. Nhưng đoạn gần cuối có tư liệu không hợp lý vì tác giả sử dụng thông tin về Lý Phục Man ở Quán Giá (xã Yên Sở, Hoài Đức) để cho rằng: “...ông được Lý Nam Đế phong chức Phục Man tướng công và cho đổi họ. Vì thế dân gian gọi Phạm Tu là Lý Phục Man”
Số 3. Tiếp đến là bài báo “Lý Phục Man có phải là Phạm Tu hay không?” của Nguyễn Khắc Đạm đăng trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 6-1983. Qua bài “Lý Phục Man-người con quang vinh của làng Giá” trong cuốn Danh nhân quê hương của Ty Văn hóa thông tin Hà Sơn Bình in năm 1976 (4), có thể thấy tác giả là người đã nghiên cứu kỹ tư liệu ở Quán Giá, từ đó ông hiểu biết sâu sắc về Lý Phục Man. Do vậy ngay sau xuất hiện bài số 2 (11/9/1983) - tháng 12/1983, ông đã đăng bài trên Tạp chí nghiên cứu chuyên ngành nói trên để nêu lên những căn cứ (sự xuất hiện trong cổ sử là hai người khác nhau, Phạm Tu tuổi cao không thể được Lý Nam Đế gả công chúa, quê quán khác nhau, tuổi tác khác nhau, ngày mất khác nhau, vị trí chỉ huy khác nhau-Lý Phục Man là tướng thuộc quyền của Phạm Tu, và sự xuất hiện trong một số tài liệu cổ Đại Nam nhất thống chí, Tiền Lý Nam Đế sự tích quốc âm) khẳng định Phạm Tu và Lý Phục Man là hai người hoàn toàn khác nhau.
Số 4. Ít ngày sau khi bài số 3 ra mắt, ông Phan Huy Lê đã hoàn thành bài “Kẻ Giá – Một làng chiến đấu truyền thống tiêu biểu và người anh hùng Lý Phục Man” (viết xong ngày 25/12/1983) và đăng trên tạp chí Dân tộc học số 46, 2-1985. Nhà sử học Phan Huy Lê đã cẩn trọng so sánh tư liệu từ hai địa phương và kết luận: “Bằng phương pháp so sánh, đối chiếu, các tư liệu trên có thể cho phép nghĩ rằng Lý Phục Man và Phạm Tu là một người. Nhưng tôi chưa coi đó là một kết luận khoa học vì quả thực tư liệu còn có chỗ mơ hồ và chưa xác minh được chắc chắn.”
Số 5. Đến năm 1991 việc đồng nhất xuất hiện trong sách, đó là cuốn Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam chủ biên Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế của Nxb KHXH-Hà Nội. Với tư liệu cơ bản của Quán Giá nhưng nhân vật lịch sử ở làng này lại được thay tên là Phạm Tu. Theo ông Nguyễn Q. Thắng thì Đại Việt sử ký toàn thư thể hiện việc có thể đồng nhất hai nhân vật.
Số 6. Cuốn Văn bia Quán Giá của chủ biên Nguyễn Bá Hân đồng thời là người biên tập, Nxb Thế giới in năm 1995. Sự tích tướng công Lý Phục Man được soạn lại theo thần phả, văn bia của Quán Giá và sử, trong đó khẳng định ngay từ câu đầu: “Lý Phục Man có họ tên thực là Phạm Tu”.
Số 7. Ngày 05/4/2009 đúng dịp ngày kỷ niệm 1463 năm ngày sinh danh tướng Phạm Tu (476-545), báo Quân đội nhân dân cuối tuần số 692 có đăng bài “Phạm Tu không phải Lý Phục Man” của Chí Nhân (Tháp Bút). Dù chưa được tiếp cận ba bài báo số 2, 3, 4, nhưng theo nghiên cứu độc lập, bằng phương pháp phản chứng cũng thu được một số kết quả như trong công bố (số 3) của tác giả Nguyễn Khắc Đạm trước đó 25 năm.
Số 8. Cuốn Sự tích đức thánh Giá của tác giả Yên Sơn-Nguyễn Bá Hân, Nxb KHXH-Hà Nội in năm 2009. Nội dung trọng tâm viết về thân thế sự nghiệp của Lý Phục Man giống như Sự tích tướng công Lý Phục Man trong tài liệu số 6.
Số 9. Bài “Danh tướng Phạm Tu-Lý Phục Man là một hay hai người” đăng trong Thông báo Hán Nôm học 2009 của PGS. TS. Trương Sỹ Hùng. Tác giả công bố một kết quả nghiên cứu công phu và cho rằng Lý Phục Man chính là Phạm Tu.
3. Phương pháp giải quyết vấn đề
Chúng ta nhận thấy sự độc lập của hai nguồn tư liệu về Phạm Tu ở Đình Ngoại và Lý Phục Man ở Quán Giá: Có thể dễ dàng xác định nguồn gốc tư liệu trong mỗi bài viết về hai nhân vật lịch sử này, nội dung nào sử dụng tư liệu từ Thanh Liệt, nội dung nào tư liệu từ Yên Sở. Do vậy những nội dung thể hiện sự đồng nhất do sử dụng tư liệu chéo-lẫn lộn (viết về Phạm Tu bằng tư liệu ở Quán Giá hoặc viết về Lý Phục Man bằng tư liệu ở Đình Ngoại) là sự sai sót do cách làm tùy tiện khi khai thác tư liệu. Hoàn toàn không thể dựa những nội dung này để lấy làm cơ sở đồng nhất, đó chỉ được coi là các nghi vấn. Ví dụ mục 2 có tài liệu số 2, viết về Phạm Tu quê ở Thanh Liệt nhưng lại sử dụng một câu tư liệu của Quán Giá (Vì thế ông được Lý Nam Đế phong chức Phục Man tướng công và cho đổi họ) để cho câu tiếp sau đồng nhất Phạm Tu với Lý Phục Man (Vì thế dân gian gọi Phạm Tu là Lý Phục Man). Với cuốn sách số 5 lại viết hoàn toàn về Lý Phục Man theo tư liệu Quán Giá nhưng lại thay tên Phạm Tu vào, ngay lập tức Phạm Tu trở thành người làng Giá.
Với việc lọc tư liệu chéo theo cách gỡ “râu ông nọ” khỏi “cằm bà kia”, chúng ta đơn giản hóa bài toán nhưng không làm thay đổi kết quả, nghi vấn vẫn được bảo lưu để tiếp tục xem xét. Những sáng tác văn học không được dùng là cơ sở mà chỉ có thể coi là nghi vấn cần nghiên cứu giải quyết dựa theo nguồn sử liệu tin cậy.
Từ nghi vấn có thể Lý Phục Man là Phạm Tu (gọi thống nhất là Tướng quân), chúng ta giải quyết vấn đề bằng cách chứng minh sự đúng đắn của giả thuyết: Có duy nhất một và chỉ một danh tướng Phạm Tu là Lý Phục Man như tư liệu ở Quán Giá.
Dựa theo giả thuyết trên, căn cứ vào chính sử ta thấy: Tướng quân có công lớn trong giải phóng đất nước đánh đuổi quân Lương, cầm quân đánh tan giặc Lâm Ấp ở Cửu Đức. Tướng quân là công thần hàng đầu, trưởng ban Võ của nhà nước Vạn Xuân.
Để tìm cách giải quyết vấn đề, ta làm theo cách dựa vào tư liệu tin cậy nhất là Đại Việt sử ký toàn thư, nội dung này cũng phù hợp với chuyện về Lý Phục Man trong Việt điện u linh có từ thời Lý Tế Xuyên. Nhưng lưu ý trong các cuốn Việt điện u linh được dịch, biên soạn và xuất bản sau này có bổ sung phần Tiếm bình và Phụ lục Sự tích đền thờ thần xã An Sở sau thời Lý Tế Xuyên. Đặc biệt tập trung xem xét nghi vấn Phạm Tu khi mất trở thành thần thiêng Lý Phục Man theo tư liệu của Quán Giá có phù hợp không.
4. Một số kết quả khi tìm kiếm lời giải
4.1. Về tên gọi
Khắp các làng xã giàu truyền thống của Việt Nam, ở đâu cũng đều kiêng tên húy của vị Thành hoàng làng của mình. Ở làng Giá, kiêng từ Man và thường thay bằng từ Men, Miêng. Việc kiêng tên này là hợp lý khi đối chiếu với chính sử vì Thần đã xưng rõ ràng: “Thần là người làng này, họ Lý tên Phục Man,”.
Như vậy Phục Man không phải là hiệu, mà chính lại là tên của Ngài?
Thần đã xưng tên Phục Man nên hàng chục thế kỷ trước đây người dân làng Giá đã không phải khó nhọc tìm kiếm tên húy của Thần. Tên Thần và hiệu của Thần đã chỉ có duy nhất là Phục Man. Chúng ta tìm ra tên gọi “Phạm Tôn” (được coi là vị thân sinh của Thần) xuất hiện khi nào thì sẽ biết lúc đó có người đã kiếm tìm được tên mới họ Phạm cho Thần.
Nếu cứ coi Phục Man là hiệu của Tướng quân thì việc kiêng tên húy đối với thành hoàng làng Giá là sự vô lý, một sự vô lý ngàn năm do thói quen nên đã được chấp nhận? Chúng ta thấy như thế Man không phải là tên húy của Tướng quân nên không cần kiêng khem mới phải? Kiêng tên gọi này chứng tỏ cả ngàn năm ở làng Giá không biết tên thật của Lý Phục Man và tên gọi Phạm Tu quả là xa lạ đối với mảnh đất này!
Nếu Tướng quân có tên húy Phạm Tu, tại sao ở làng Giá không kiêng tên Tu? PGS. TS. Trương Sỹ Hùng giải thích:
Khi Phạm Tu được vua ban quốc tính tức là họ Lý và danh hiệu Phục Man, lại được vua gả công chúa ông trở thành phò mã. Lẽ thường theo “mệnh vua phép nước”, bản thân đương sự là Phạm Tu và “phận con dân” thuộc mọi tầng lớp xã hội, mọi lứa tuổi, mọi thế hệ người đời không thể trái mệnh vua, nên ngay từ lúc sinh thời tục danh Phạm Tu dần lui vào quá khứ.(5)
4.2. Tại làng Giá, tên tuổi Phạm Tu “dần lui vào quá khứ”?
Thật kỳ lạ tại sao ở làng Giá tên tuổi Phạm Tu "lui vào quá khứ" mà chỉ biết đến tên gọi Lý Phục Man từ thời Lý Thái Tổ. Bộ chính sử lớn của nước ta, cuốn Đại Việt sử ký toàn thư đã để lại những dòng ghi về Phạm Tu (2 lần) được chính PGS. TS. Trương Sỹ Hùng coi là "không phải là bất cẩn", và có ghi Phạm Tu trong Việt điện u linh (không phải trong truyện Lý Phục Man).
Làm sao làng Giá lại bỏ quên đến mức sau 14 thế kỷ để đến nửa cuối thế kỷ XX mới cho Lý Phục Man là Phạm Tu? Phải chăng đó là sự suy luận, "tưởng tượng về thời xa xưa" chứ không hề có cơ sở để nói là "dần lui vào quá khứ"?
Lịch sử Việt Nam hiếm có người được phong quốc tính (một dạng khen thưởng đặc biệt) mà tên tuổi bị mai một. Bởi lẽ chính việc được ban quốc tính đã là một sự ca tụng nên lai lịch về nhân vật ấy càng rõ ràng hơn rất nhiều người cũng được ghi trong sử sách. Những nhà viết sử thời Lý-Trần đã biết về Phạm Tu nên thần phả nào có ghi tên ông đều đã được viết một cách cẩn thận.
Ta xác định thời gian tồn tại tên gọi Lý Phục Man của Tướng quân lúc sinh thời của Ngài: Từ khi khởi nghĩa Lý Bí đến khi Tướng quân hóa thần lâu nhất là 7 năm (541-548). Tạm coi khi đánh xong Lâm Ấp vào mùa hạ năm 543, Tướng quân được gọi là Lý Phục Man như vậy rút còn 5 năm. Chưa kể nếu Tướng quân mất tại chiến thành cửa sông Tô năm 545 thì chỉ có khoảng 2 năm. Vậy là tên húy của Tướng quân phải mất rất nhanh chóng, chứ đâu còn “dần lui” như tưởng tượng của ông Trương Sỹ Hùng là đã xảy ra “ngay từ lúc sinh thời”. Điều này quá phi lý đối với “người con quang vinh của làng Giá”.
Ngẫm lại câu: “Trăm năm bia đá thì mòn, Ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ.” Đúng là: bia miệng ở làng Giá đã không có thông tin về Phạm Tu làm sao có thể ghi vào bia đá Quán Giá!
4.3. Phạm Tu có được ban quốc tính không?
Một lần nữa căn cứ vào chính sử theo lời của Thần: “họ Lý tên Phục Man” thì bản thân Ngài nhận mình mang họ Lý. Do đó việc ban quốc tính cũng có thể truyền miệng mà có. Nhưng xét trong Đại Việt sử ký toàn thư thì ở thời Hậu Lý mới thấy nhà vua ban quốc tính cho một số nhân vật tiêu biểu. Với thời Tiền Lý trước đó hơn 5 thế kỷ, không lẽ Lý Nam Đế thiên vị: ban cho Tả tướng Phạm Tu quốc tính là Lý Tu, mà Trưởng Ban Văn-Tinh Thiều, Thái phó-Triệu Túc không được ban quốc tính?
4.4. Lý Phục Man là thống lĩnh chư tướng đi đánh Lâm Ấp, được phong Thái úy?
Qua lời Thần xưng với Lý Thái Tổ: “làm tướng giúp Nam Đế, có tiếng là người trung liệt, được giao trông coi hai dải sông núi Đỗ Động và Đường Lâm”, chúng ta thấy chức vụ cao nhất của thần là tướng giữ vùng biên cảnh phía tây (như Tư lệnh quân khu sát biên giới ngày nay) điều này lại được khẳng định: “Đến khi chết, thượng đế khen là trung trực, sắc cho giữ chức như cũ”. Như đã ghi trong chính sử, hoàn toàn không nói đến việc thần đã làm tướng đánh Lâm Ấp và không đứng đầu quân đội như thống lĩnh chư tướng, Thái úy.
Như vậy cả Lý Nam Đế và Thượng Đế đều giao cho Tướng quân “trông coi hai dải sông núi Đỗ Động và Đường Lâm”. Bản thân Lý Thái Tổ cũng giao cho Thần vị trí này một cách rất khéo: “Nay may được bệ hạ thương đến, biết cho thần giữ chức này đã lâu rồi”.
Phạm Tu khi hy sinh chắc chắn vẫn là người đứng đầu hàng Võ của nhà nước Vạn Xuân. Nếu Tướng quân được ghi trong chính sử là trưởng ban Võ, Tả tướng, đứng đầu quân đội mà đến cuối lại đi trông coi một vùng biên cảnh phía tây thì đúng là Tướng quân bị giáng chức. Điều này là sự phi lý cao độ bởi Thần khi sống “có tiếng là người trung liệt”, thác được “Thượng đế khen là trung thực” không có lý do gì để giáng chức. Ngay cả đương kim Hoàng thượng cũng vẫn chỉ cho thần giữ chức đã bị giáng? Như vậy khẳng định khi mất Lý Phục Man hoàn toàn không đứng đầu trăm quan. Không nên “ép” Lý Phục Man là Phạm Tu nếu không Thần bị “vu khống” một trọng tội với Thượng Đế, Lý Nam Đế và với cả Lý Thái Tổ vì đã giấu giếm tên họ và chức vụ trong khi tứ thơ Ngài đọc rành mạch: “Thiên hạ khi mờ tối, trung thần giấu tính danh, giữa trời nhật nguyệt sáng, ai chẳng thấy dáng hình”. Dễ mắc tội khi quân lắm lắm!
Việc Lý Phục Man đi đánh Lâm Ấp có thể xảy ra bởi ra trận không thể có một mình tướng Phạm Tu đi giữ yên bờ cõi phía nam như đã ghi trong chính sử. Còn Lý Phục Man thống lĩnh chư tướng đi đánh Lâm Ấp, rồi đứng đầu trăm quan có lẽ chính là dựa vào việc vua chúa thời sau sắc phong bổ sung Thái úy cho thần Lý Phục Man, từ đó người ta luận ra ông võ tướng này xứng với vị trí của Phạm Tu hơn cả (Đề cao hết tầm một võ tướng, ắt người đó là tứ trụ triều đình thống lĩnh Quân đội). Lịch sử Việt Nam có Phạm Cự Lượng (944-?) là người đầu tiên được phong Thái úy vào năm 986 dưới triều Tiền Lê. Ngay triều trước-thời Đinh Tiên Hoàng, người có vị trí đứng đầu quân đội là Lê Hoàn được gọi là Thập đạo tướng quân.
4.5. Về độ tuổi của Phạm Tu khi tham gia khởi nghĩa:
Theo tư liệu Quán Giá thì Lý Phục Man trẻ tuổi, Lý Bí (503-548) khoảng vừa sang tứ tuần đã gả công chúa cho Tướng quân, nên công chúa khoảng hai mươi và Tướng quân chắc chắn trẻ hơn Lý Bí có thể ngoài ba mươi tuổi. Như vậy có thể Lý Phục Man ngang tuổi với Triệu Quang Phục (?-571).
Trong thời gian từ năm 541 đến đầu năm 545, không đủ thời gian và hoàn cảnh để Lý Phục Man này trở thành vị khai quốc công thần hàng đầu của nhà nước Vạn Xuân. Cùng trang lứa, ngang sức ngang tài thì cả Triệu Quang Phục và Lý Phục Man đều chưa xếp được vào hàng khai quốc công thần của Lý Nam Đế.
Chúng ta thấy Phạm Tu trong sử sách đã bước qua thời trai trẻ trở thành thủ lĩnh có uy tín đã ngao du kết bạn với hào kiệt nhiều vùng khác nhau như Triệu Túc. Phạm Tu sẽ là bậc cha chú của Triệu Quang Phục, Lý Phục Man.
4.6. Căn cứ theo thần tích và văn bia Quán Giá
Xét về tư liệu thần tích và văn bia Quán Giá, không có một từ nào nói đến Phạm Tu. Văn bia năm Bảo Thái thứ 9 (1728) là văn bản đã tổng hợp từ các văn bia và tư liệu liên quan có trước đó về Lý Phục Man. Văn bản này mang tính kết luận rất thống nhất của các nhà trí thức xưa (các nhà Nho trong đó có nhiều người con hiếu học của làng Giá) về Lý Phục Man. Đây là nguồn tư liệu tin cậy đã được nhiều nhà khoa học uy tín nghiên cứu trong đó tiêu biểu nhất là cố GS. Nguyễn Văn Huyên (1908-1975). Quê của ông ở xã Kim Chung, Hoài Đức cách Quán Giá không xa, nhưng ông cũng không tìm ra tên “khai sinh” của Lý Phục Man từ năm 1938. Chúng ta tin tưởng ông là người có nhiều thông tin về Lý Phục Man nhất khi khai thác tài liệu có những năm ba mươi của thế kỷ trước.
4.7. Vị thế Quán Giá và thần Lý Phục Man
Nói đến đình quán làng Giá phải kể đến lễ hội. Tất cả đều to lớn, độc đáo hàng đầu của đất nước. Nhưng không nên choáng ngợp trước lễ hội Quán Giá và số lượng di tích thờ mà cho rằng Lý Phục Man chỉ đứng sau Lý Nam Đế. Chúng ta xem xét một vài yếu tố tạo nên tầm cao của Quán Giá:
- Trước hết phải kể đến văn hóa của địa phương đã được bảo tồn phát triển, điều đó thể hiện qua lễ hội với sự độc đáo và lớn hàng đầu của nước ta. Làng Giá là một làng Việt cổ trù phú có truyền thống lâu đời rất văn hiến, anh hùng và giàu tính sáng tạo.
- Quan trọng hàng đầu là sự linh ứng của thần Lý Phục Man được chép trong chính sử. Nhất là vị quân vương Lý Thái Tổ có thể nói là một con người với nhiều câu chuyện huyền bí ly kỳ đã gặp thần Lý Phục Man ngay ở Cổ Sở.
- Chuyện được chép trong Việt điện u linh, một tác phẩm làm căn cứ cho các triều đại về sau luôn tập trung sắc phong cho hầu hết các vị thần có trong tác phẩm.
- Vị trí Cổ Sở ngay bên đường thiên lý xứ Đoài, có sông Đáy thông thương lại gần kinh đô do vậy thuận tiện giao thông thủy bộ.
- Tâm nguyện của các triều đại xưa đều mong muốn vị thần ở Quán Giá phù trì để yên ổn bờ cõi nhất là các tộc thiểu số hướng thần án ngữ. Phục Man về sau cũng là việc chống giặc giữ nước, cũng là việc triều đình chống nổi dậy của giặc cỏ, vậy nên Thần Phục Man luôn được các vương triều chú trọng, tôn vinh, được liên tục ban rất nhiều đặc ân.
*
Từ những sự bất hợp lý nêu trên cho thấy dựa vào Đại Việt sử ký toàn thư chúng ta nhận ra hàng loạt điều không thích hợp trong tư liệu ở Quán Giá khi đồng nhất Lý Phục Man với nhân vật lịch sử Phạm Tu.
5. Kết luận
Dựa vào chính sử chúng ta thấy thần Lý Phục Man trong giấc mộng của Lý Thái Tổ (sau 471 năm kể từ khi Phạm Tu mất) không thể là danh tướng Phạm Tu đứng đầu ban Võ của nhà nước Vạn Xuân. Theo thần tích của hai làng: Hãy để quê hương của Phạm Tu ở làng Quang (Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội) và thần Lý Phục Man ở làng Giá (Yên Sở, Hoài Đức, Hà Nội) là một cách làm tôn trọng lịch sử. Không có cơ sở đồng nhất, hãy sử dụng tư liệu về từng nhân vật riêng biệt, không nên lẫn lộn để làm phức tạp vấn đề.
Long Biên, ngày 15/11/2010
_____________
(1) “Lão tướng Phạm Tu”, Lê Văn Lan, 1987.
(2, 3) Đại Việt sử ký toàn thư, Bản dịch của Viện Sử học. Nxb KHXH, Hà Nội
(4) Danh nhân quê hương, Ty Văn hóa thông tin Hà Sơn Bình, 1976.
(5) “Danh tướng Phạm Tu Lý Phục Man là một hay hai người”, Thông báo Hán Nôm học 2009, PGS. TS. Trương Sỹ Hùng, 2009.
Tóm tắt: Chúng ta đang tiến tới mốc kỷ niệm 1.500 năm khởi nghĩa Lý Bí, thành lập nước Vạn Xuân. Trên đất tiền Thăng Long - “chỗ hội tụ quan yếu của bốn phương”, vị hoàng đế đầu tiên lập nước Vạn Xuân - nhà nước đầu tiên có tổ chức bộ máy chính quyền đã định đô và lập chiến thành ở vùng đất linh thiêng đó. Trong triều đình Vạn Xuân có vị lão tướng Phạm Tu (thờ ở Đình Ngoại, xã Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội) đứng đầu quân đội là người sinh ra bên dòng sông Tô, hy sinh ngay cửa sông Tô. Võ tướng thời này còn có Lý Phục Man trấn giữ Đỗ Động, Đường Lâm, là vị thần linh thiêng thờ ở Quán Giá xã Yên Sở, Hoài Đức, Hà Nội. Mấy chục năm qua đã xuất hiện vấn đề đồng nhất hai nhân vật này, các nhà khoa học chưa đi đến thống nhất. Sử sách ghi chép ngắn gọn, trong khi tư liệu dân gian lại rất khó xác minh. Do vậy bài báo này sử dụng thông tin cốt lõi từ chính sử để làm cơ sở xem xét tính lô-gích khi đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu.
Ba mươi năm, một chặng đường dài kể từ ngày tôi cắp sách đến trường. Là cậu học trò thích đọc chuyện kể về danh nhân, nên sự kiện thành lập nhà nước Vạn Xuân có vua Lý Nam Đế và bề tôi: Triệu Túc, Tinh Thiều, Phạm Tu là điều sáng sủa, rành mạch trên trang sách nhà trường. Chính trong thời gian đó, các nhà khoa học đã công bố kết quả nghiên cứu về vấn đề phức tạp: đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu (Vấn đề đồng nhất).
Năm 1982, các nhà sử học trong và ngoài Quân đội cùng các cộng sự đã khảo sát kỹ lưỡng tại xã Thanh Liệt, Thanh Trì và xã Yên Sở, Hoài Đức. Ngày 25/12/1982, tại xã Yên Sở đã diễn ra hội thảo khoa học về Lý Phục Man. Trong Hội thảo có một số báo cáo cho rằng có thể đồng nhất hai nhân vật Phạm Tu và Lý Phục Man. Đây là vấn đề khoa học thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và cả trong giới bình dân. Như nhà sử học Lê Văn Lan đã nêu “là vấn đề sử học nêu ra đã lâu nhưng chưa được giải quyết”(1) do vậy vấn đề khoa học này không hề giản đơn nhưng cần sớm làm rõ.
Để tìm hiểu vấn đề này, trước hết chúng tôi tìm kiếm kỹ lưỡng theo các từ khóa để tới các địa chỉ trên mạng, tìm trong sách báo và đã lập nên hồ sơ tư liệu điện tử trong blog Đi tìm cơ sở đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu. Quả có nhiều mâu thuẫn và rất phức tạp đối với Vấn đề đồng nhất. Nhưng từ đó, chúng ta có đầy đủ thông tin về nguồn gốc tư liệu xuất bản để tìm từng trang sách, kiếm những bài báo liên quan được cất kỹ trong thư viện. Theo các tư liệu thu thập được chúng ta có thể thấy một số thông tin chính về Vấn đề đồng nhất:
1. Nguồn thông tin cốt lõi, chính thống theo cổ sử:
Cuốn Đại Việt sử ký toàn thư - bộ chính sử lớn của nước ta, đã ghi về danh tướng Phạm Tu như sau:
“Mùa hạ, tháng 4 năm Quý Hợi (543) vua Lâm Ấp cướp quận Nhật Nam, vua sai tướng Phạm Tu đánh tan giặc ở quận Cửu Đức”.
và:
“Mùa Xuân, tháng Giêng năm Giáp Tý (544), vua lên ngôi, xưng là Nam Việt Đế, lấy niên hiệu là Thiên Đức, đặt trăm quan, dựng quốc hiệu là Vạn Xuân là ý mong xã tắc truyền đến muôn đời vậy. Dựng điện Vạn Thọ làm nơi triều hội. Lấy Triệu Túc làm Thái Phó, lấy Tinh Thiều, Phạm Tu làm tướng văn, tướng võ.” (2)
Đó là việc chép về Phạm Tu ở giữa thế kỷ thứ VI. Danh tướng Phạm Tu là nhân vật lịch sử xuất hiện trong sự kiện cụ thể (có không gian, thời gian và địa điểm) với vị trí chỉ huy rõ ràng.
Còn về sự xuất hiện của thần Lý Phục Man: vào năm 1016, trong giấc mộng của Lý Thái Tổ cũng ghi rất cẩn thận ở cuốn Đại Việt sử ký toàn thư. Thông tin có thể đã lấy theo ghi chép của quan Ngự sử Lương Văn Nhậm cùng đi với Lý Thái Tổ và được nhà vua kể lại ngay sau giấc mộng:
Động đất. Làm lễ tế vong các danh sơn. Vua nhân đi xem núi sông, đến bến đò Cổ Sở, thấy khí tốt của núi sông, tâm thần cảm động, bèn làm lễ rưới rượu xuống đất, khấn rằng: “Trẫm xem địa phương này, núi lạ sông đẹp, nếu có nhân kiệt địa linh thì hưởng lễ”.
Đêm ấy, vua chiêm bao thấy có dị nhân đến cúi đầu lạy hai lạy, nói: “Thần là người làng này, họ Lý tên Phục Man, làm tướng giúp Nam Đế, có tiếng là người trung liệt, được giao trông coi hai dải sông núi Đỗ Động và Đường Lâm, bọn Di Lão không dám xâm phạm biên giới, một phương yên bình. Đến khi chết, thượng đế khen là trung trực, sắc cho giữ chức như cũ. Cho nên phàm giặc Man Di đến cướp đều chống giữ được cả. Nay may được bệ hạ thương đến, biết cho thần giữ chức này đã lâu rồi”. Rồi đó thung dung nói: “Thiên hạ khi mờ tối, trung thần giấu tính danh, giữa trời nhật nguyệt sáng, ai chẳng thấy dáng hình”. Vua thức dậy nói việc ấy với Ngự sử đại phu Lương Văn Nhậm rằng: “Đó là ý thần muốn tạc tượng”.(3)
¬¬¬¬¬¬¬¬Với nguồn sử liệu chính thống như vậy, trải qua 15 thế kỷ, tư liệu về Phạm Tu và Lý Phục Man được bổ sung dồi dào. Còn có những văn bản đáng quan tâm như thần tích về Đô Hồ Đại vương Phạm Tu ở Đình Ngoại và bộ tư liệu về Lý Phục Man gồm thần tích, văn bia ở Quán Giá. Ngoài ra còn có một số thông tin, tư liệu có thể được bổ sung theo truyền ngôn ở địa phương hoặc sáng tác văn học.
Sau đây là thống kê những ấn phẩm tiêu biểu có thể hiện việc đồng nhất qua các cuốn sách cùng các bài nghiên cứu về vấn đề liên quan:
2. Vấn đề đồng nhất qua một số ấn phẩm tiêu biểu:
Số 1. Cuốn Đình Yên Sở của Ty Văn hóa-thông tin Hà Tây viết năm 1968.
Số 2. Bài báo đầu tiên thể hiện đồng nhất có tên “Phạm Tu với nhà nước Vạn Xuân” của Đàm Hưng đăng trên trang 2 báo Hà Nội mới ngày 11/9/1983: Trong bài báo nêu rõ thân thế sự nghiệp của Phạm Tu cơ bản theo thần tích Đình Ngoại, xã Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội và khẳng định quê ông ở đây. Nhưng đoạn gần cuối có tư liệu không hợp lý vì tác giả sử dụng thông tin về Lý Phục Man ở Quán Giá (xã Yên Sở, Hoài Đức) để cho rằng: “...ông được Lý Nam Đế phong chức Phục Man tướng công và cho đổi họ. Vì thế dân gian gọi Phạm Tu là Lý Phục Man”
Số 3. Tiếp đến là bài báo “Lý Phục Man có phải là Phạm Tu hay không?” của Nguyễn Khắc Đạm đăng trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 6-1983. Qua bài “Lý Phục Man-người con quang vinh của làng Giá” trong cuốn Danh nhân quê hương của Ty Văn hóa thông tin Hà Sơn Bình in năm 1976 (4), có thể thấy tác giả là người đã nghiên cứu kỹ tư liệu ở Quán Giá, từ đó ông hiểu biết sâu sắc về Lý Phục Man. Do vậy ngay sau xuất hiện bài số 2 (11/9/1983) - tháng 12/1983, ông đã đăng bài trên Tạp chí nghiên cứu chuyên ngành nói trên để nêu lên những căn cứ (sự xuất hiện trong cổ sử là hai người khác nhau, Phạm Tu tuổi cao không thể được Lý Nam Đế gả công chúa, quê quán khác nhau, tuổi tác khác nhau, ngày mất khác nhau, vị trí chỉ huy khác nhau-Lý Phục Man là tướng thuộc quyền của Phạm Tu, và sự xuất hiện trong một số tài liệu cổ Đại Nam nhất thống chí, Tiền Lý Nam Đế sự tích quốc âm) khẳng định Phạm Tu và Lý Phục Man là hai người hoàn toàn khác nhau.
Số 4. Ít ngày sau khi bài số 3 ra mắt, ông Phan Huy Lê đã hoàn thành bài “Kẻ Giá – Một làng chiến đấu truyền thống tiêu biểu và người anh hùng Lý Phục Man” (viết xong ngày 25/12/1983) và đăng trên tạp chí Dân tộc học số 46, 2-1985. Nhà sử học Phan Huy Lê đã cẩn trọng so sánh tư liệu từ hai địa phương và kết luận: “Bằng phương pháp so sánh, đối chiếu, các tư liệu trên có thể cho phép nghĩ rằng Lý Phục Man và Phạm Tu là một người. Nhưng tôi chưa coi đó là một kết luận khoa học vì quả thực tư liệu còn có chỗ mơ hồ và chưa xác minh được chắc chắn.”
Số 5. Đến năm 1991 việc đồng nhất xuất hiện trong sách, đó là cuốn Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam chủ biên Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế của Nxb KHXH-Hà Nội. Với tư liệu cơ bản của Quán Giá nhưng nhân vật lịch sử ở làng này lại được thay tên là Phạm Tu. Theo ông Nguyễn Q. Thắng thì Đại Việt sử ký toàn thư thể hiện việc có thể đồng nhất hai nhân vật.
Số 6. Cuốn Văn bia Quán Giá của chủ biên Nguyễn Bá Hân đồng thời là người biên tập, Nxb Thế giới in năm 1995. Sự tích tướng công Lý Phục Man được soạn lại theo thần phả, văn bia của Quán Giá và sử, trong đó khẳng định ngay từ câu đầu: “Lý Phục Man có họ tên thực là Phạm Tu”.
Số 7. Ngày 05/4/2009 đúng dịp ngày kỷ niệm 1463 năm ngày sinh danh tướng Phạm Tu (476-545), báo Quân đội nhân dân cuối tuần số 692 có đăng bài “Phạm Tu không phải Lý Phục Man” của Chí Nhân (Tháp Bút). Dù chưa được tiếp cận ba bài báo số 2, 3, 4, nhưng theo nghiên cứu độc lập, bằng phương pháp phản chứng cũng thu được một số kết quả như trong công bố (số 3) của tác giả Nguyễn Khắc Đạm trước đó 25 năm.
Số 8. Cuốn Sự tích đức thánh Giá của tác giả Yên Sơn-Nguyễn Bá Hân, Nxb KHXH-Hà Nội in năm 2009. Nội dung trọng tâm viết về thân thế sự nghiệp của Lý Phục Man giống như Sự tích tướng công Lý Phục Man trong tài liệu số 6.
Số 9. Bài “Danh tướng Phạm Tu-Lý Phục Man là một hay hai người” đăng trong Thông báo Hán Nôm học 2009 của PGS. TS. Trương Sỹ Hùng. Tác giả công bố một kết quả nghiên cứu công phu và cho rằng Lý Phục Man chính là Phạm Tu.
3. Phương pháp giải quyết vấn đề
Chúng ta nhận thấy sự độc lập của hai nguồn tư liệu về Phạm Tu ở Đình Ngoại và Lý Phục Man ở Quán Giá: Có thể dễ dàng xác định nguồn gốc tư liệu trong mỗi bài viết về hai nhân vật lịch sử này, nội dung nào sử dụng tư liệu từ Thanh Liệt, nội dung nào tư liệu từ Yên Sở. Do vậy những nội dung thể hiện sự đồng nhất do sử dụng tư liệu chéo-lẫn lộn (viết về Phạm Tu bằng tư liệu ở Quán Giá hoặc viết về Lý Phục Man bằng tư liệu ở Đình Ngoại) là sự sai sót do cách làm tùy tiện khi khai thác tư liệu. Hoàn toàn không thể dựa những nội dung này để lấy làm cơ sở đồng nhất, đó chỉ được coi là các nghi vấn. Ví dụ mục 2 có tài liệu số 2, viết về Phạm Tu quê ở Thanh Liệt nhưng lại sử dụng một câu tư liệu của Quán Giá (Vì thế ông được Lý Nam Đế phong chức Phục Man tướng công và cho đổi họ) để cho câu tiếp sau đồng nhất Phạm Tu với Lý Phục Man (Vì thế dân gian gọi Phạm Tu là Lý Phục Man). Với cuốn sách số 5 lại viết hoàn toàn về Lý Phục Man theo tư liệu Quán Giá nhưng lại thay tên Phạm Tu vào, ngay lập tức Phạm Tu trở thành người làng Giá.
Với việc lọc tư liệu chéo theo cách gỡ “râu ông nọ” khỏi “cằm bà kia”, chúng ta đơn giản hóa bài toán nhưng không làm thay đổi kết quả, nghi vấn vẫn được bảo lưu để tiếp tục xem xét. Những sáng tác văn học không được dùng là cơ sở mà chỉ có thể coi là nghi vấn cần nghiên cứu giải quyết dựa theo nguồn sử liệu tin cậy.
Từ nghi vấn có thể Lý Phục Man là Phạm Tu (gọi thống nhất là Tướng quân), chúng ta giải quyết vấn đề bằng cách chứng minh sự đúng đắn của giả thuyết: Có duy nhất một và chỉ một danh tướng Phạm Tu là Lý Phục Man như tư liệu ở Quán Giá.
Dựa theo giả thuyết trên, căn cứ vào chính sử ta thấy: Tướng quân có công lớn trong giải phóng đất nước đánh đuổi quân Lương, cầm quân đánh tan giặc Lâm Ấp ở Cửu Đức. Tướng quân là công thần hàng đầu, trưởng ban Võ của nhà nước Vạn Xuân.
Để tìm cách giải quyết vấn đề, ta làm theo cách dựa vào tư liệu tin cậy nhất là Đại Việt sử ký toàn thư, nội dung này cũng phù hợp với chuyện về Lý Phục Man trong Việt điện u linh có từ thời Lý Tế Xuyên. Nhưng lưu ý trong các cuốn Việt điện u linh được dịch, biên soạn và xuất bản sau này có bổ sung phần Tiếm bình và Phụ lục Sự tích đền thờ thần xã An Sở sau thời Lý Tế Xuyên. Đặc biệt tập trung xem xét nghi vấn Phạm Tu khi mất trở thành thần thiêng Lý Phục Man theo tư liệu của Quán Giá có phù hợp không.
4. Một số kết quả khi tìm kiếm lời giải
4.1. Về tên gọi
Khắp các làng xã giàu truyền thống của Việt Nam, ở đâu cũng đều kiêng tên húy của vị Thành hoàng làng của mình. Ở làng Giá, kiêng từ Man và thường thay bằng từ Men, Miêng. Việc kiêng tên này là hợp lý khi đối chiếu với chính sử vì Thần đã xưng rõ ràng: “Thần là người làng này, họ Lý tên Phục Man,”.
Như vậy Phục Man không phải là hiệu, mà chính lại là tên của Ngài?
Thần đã xưng tên Phục Man nên hàng chục thế kỷ trước đây người dân làng Giá đã không phải khó nhọc tìm kiếm tên húy của Thần. Tên Thần và hiệu của Thần đã chỉ có duy nhất là Phục Man. Chúng ta tìm ra tên gọi “Phạm Tôn” (được coi là vị thân sinh của Thần) xuất hiện khi nào thì sẽ biết lúc đó có người đã kiếm tìm được tên mới họ Phạm cho Thần.
Nếu cứ coi Phục Man là hiệu của Tướng quân thì việc kiêng tên húy đối với thành hoàng làng Giá là sự vô lý, một sự vô lý ngàn năm do thói quen nên đã được chấp nhận? Chúng ta thấy như thế Man không phải là tên húy của Tướng quân nên không cần kiêng khem mới phải? Kiêng tên gọi này chứng tỏ cả ngàn năm ở làng Giá không biết tên thật của Lý Phục Man và tên gọi Phạm Tu quả là xa lạ đối với mảnh đất này!
Nếu Tướng quân có tên húy Phạm Tu, tại sao ở làng Giá không kiêng tên Tu? PGS. TS. Trương Sỹ Hùng giải thích:
Khi Phạm Tu được vua ban quốc tính tức là họ Lý và danh hiệu Phục Man, lại được vua gả công chúa ông trở thành phò mã. Lẽ thường theo “mệnh vua phép nước”, bản thân đương sự là Phạm Tu và “phận con dân” thuộc mọi tầng lớp xã hội, mọi lứa tuổi, mọi thế hệ người đời không thể trái mệnh vua, nên ngay từ lúc sinh thời tục danh Phạm Tu dần lui vào quá khứ.(5)
4.2. Tại làng Giá, tên tuổi Phạm Tu “dần lui vào quá khứ”?
Thật kỳ lạ tại sao ở làng Giá tên tuổi Phạm Tu "lui vào quá khứ" mà chỉ biết đến tên gọi Lý Phục Man từ thời Lý Thái Tổ. Bộ chính sử lớn của nước ta, cuốn Đại Việt sử ký toàn thư đã để lại những dòng ghi về Phạm Tu (2 lần) được chính PGS. TS. Trương Sỹ Hùng coi là "không phải là bất cẩn", và có ghi Phạm Tu trong Việt điện u linh (không phải trong truyện Lý Phục Man).
Làm sao làng Giá lại bỏ quên đến mức sau 14 thế kỷ để đến nửa cuối thế kỷ XX mới cho Lý Phục Man là Phạm Tu? Phải chăng đó là sự suy luận, "tưởng tượng về thời xa xưa" chứ không hề có cơ sở để nói là "dần lui vào quá khứ"?
Lịch sử Việt Nam hiếm có người được phong quốc tính (một dạng khen thưởng đặc biệt) mà tên tuổi bị mai một. Bởi lẽ chính việc được ban quốc tính đã là một sự ca tụng nên lai lịch về nhân vật ấy càng rõ ràng hơn rất nhiều người cũng được ghi trong sử sách. Những nhà viết sử thời Lý-Trần đã biết về Phạm Tu nên thần phả nào có ghi tên ông đều đã được viết một cách cẩn thận.
Ta xác định thời gian tồn tại tên gọi Lý Phục Man của Tướng quân lúc sinh thời của Ngài: Từ khi khởi nghĩa Lý Bí đến khi Tướng quân hóa thần lâu nhất là 7 năm (541-548). Tạm coi khi đánh xong Lâm Ấp vào mùa hạ năm 543, Tướng quân được gọi là Lý Phục Man như vậy rút còn 5 năm. Chưa kể nếu Tướng quân mất tại chiến thành cửa sông Tô năm 545 thì chỉ có khoảng 2 năm. Vậy là tên húy của Tướng quân phải mất rất nhanh chóng, chứ đâu còn “dần lui” như tưởng tượng của ông Trương Sỹ Hùng là đã xảy ra “ngay từ lúc sinh thời”. Điều này quá phi lý đối với “người con quang vinh của làng Giá”.
Ngẫm lại câu: “Trăm năm bia đá thì mòn, Ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ.” Đúng là: bia miệng ở làng Giá đã không có thông tin về Phạm Tu làm sao có thể ghi vào bia đá Quán Giá!
4.3. Phạm Tu có được ban quốc tính không?
Một lần nữa căn cứ vào chính sử theo lời của Thần: “họ Lý tên Phục Man” thì bản thân Ngài nhận mình mang họ Lý. Do đó việc ban quốc tính cũng có thể truyền miệng mà có. Nhưng xét trong Đại Việt sử ký toàn thư thì ở thời Hậu Lý mới thấy nhà vua ban quốc tính cho một số nhân vật tiêu biểu. Với thời Tiền Lý trước đó hơn 5 thế kỷ, không lẽ Lý Nam Đế thiên vị: ban cho Tả tướng Phạm Tu quốc tính là Lý Tu, mà Trưởng Ban Văn-Tinh Thiều, Thái phó-Triệu Túc không được ban quốc tính?
4.4. Lý Phục Man là thống lĩnh chư tướng đi đánh Lâm Ấp, được phong Thái úy?
Qua lời Thần xưng với Lý Thái Tổ: “làm tướng giúp Nam Đế, có tiếng là người trung liệt, được giao trông coi hai dải sông núi Đỗ Động và Đường Lâm”, chúng ta thấy chức vụ cao nhất của thần là tướng giữ vùng biên cảnh phía tây (như Tư lệnh quân khu sát biên giới ngày nay) điều này lại được khẳng định: “Đến khi chết, thượng đế khen là trung trực, sắc cho giữ chức như cũ”. Như đã ghi trong chính sử, hoàn toàn không nói đến việc thần đã làm tướng đánh Lâm Ấp và không đứng đầu quân đội như thống lĩnh chư tướng, Thái úy.
Như vậy cả Lý Nam Đế và Thượng Đế đều giao cho Tướng quân “trông coi hai dải sông núi Đỗ Động và Đường Lâm”. Bản thân Lý Thái Tổ cũng giao cho Thần vị trí này một cách rất khéo: “Nay may được bệ hạ thương đến, biết cho thần giữ chức này đã lâu rồi”.
Phạm Tu khi hy sinh chắc chắn vẫn là người đứng đầu hàng Võ của nhà nước Vạn Xuân. Nếu Tướng quân được ghi trong chính sử là trưởng ban Võ, Tả tướng, đứng đầu quân đội mà đến cuối lại đi trông coi một vùng biên cảnh phía tây thì đúng là Tướng quân bị giáng chức. Điều này là sự phi lý cao độ bởi Thần khi sống “có tiếng là người trung liệt”, thác được “Thượng đế khen là trung thực” không có lý do gì để giáng chức. Ngay cả đương kim Hoàng thượng cũng vẫn chỉ cho thần giữ chức đã bị giáng? Như vậy khẳng định khi mất Lý Phục Man hoàn toàn không đứng đầu trăm quan. Không nên “ép” Lý Phục Man là Phạm Tu nếu không Thần bị “vu khống” một trọng tội với Thượng Đế, Lý Nam Đế và với cả Lý Thái Tổ vì đã giấu giếm tên họ và chức vụ trong khi tứ thơ Ngài đọc rành mạch: “Thiên hạ khi mờ tối, trung thần giấu tính danh, giữa trời nhật nguyệt sáng, ai chẳng thấy dáng hình”. Dễ mắc tội khi quân lắm lắm!
Việc Lý Phục Man đi đánh Lâm Ấp có thể xảy ra bởi ra trận không thể có một mình tướng Phạm Tu đi giữ yên bờ cõi phía nam như đã ghi trong chính sử. Còn Lý Phục Man thống lĩnh chư tướng đi đánh Lâm Ấp, rồi đứng đầu trăm quan có lẽ chính là dựa vào việc vua chúa thời sau sắc phong bổ sung Thái úy cho thần Lý Phục Man, từ đó người ta luận ra ông võ tướng này xứng với vị trí của Phạm Tu hơn cả (Đề cao hết tầm một võ tướng, ắt người đó là tứ trụ triều đình thống lĩnh Quân đội). Lịch sử Việt Nam có Phạm Cự Lượng (944-?) là người đầu tiên được phong Thái úy vào năm 986 dưới triều Tiền Lê. Ngay triều trước-thời Đinh Tiên Hoàng, người có vị trí đứng đầu quân đội là Lê Hoàn được gọi là Thập đạo tướng quân.
4.5. Về độ tuổi của Phạm Tu khi tham gia khởi nghĩa:
Theo tư liệu Quán Giá thì Lý Phục Man trẻ tuổi, Lý Bí (503-548) khoảng vừa sang tứ tuần đã gả công chúa cho Tướng quân, nên công chúa khoảng hai mươi và Tướng quân chắc chắn trẻ hơn Lý Bí có thể ngoài ba mươi tuổi. Như vậy có thể Lý Phục Man ngang tuổi với Triệu Quang Phục (?-571).
Trong thời gian từ năm 541 đến đầu năm 545, không đủ thời gian và hoàn cảnh để Lý Phục Man này trở thành vị khai quốc công thần hàng đầu của nhà nước Vạn Xuân. Cùng trang lứa, ngang sức ngang tài thì cả Triệu Quang Phục và Lý Phục Man đều chưa xếp được vào hàng khai quốc công thần của Lý Nam Đế.
Chúng ta thấy Phạm Tu trong sử sách đã bước qua thời trai trẻ trở thành thủ lĩnh có uy tín đã ngao du kết bạn với hào kiệt nhiều vùng khác nhau như Triệu Túc. Phạm Tu sẽ là bậc cha chú của Triệu Quang Phục, Lý Phục Man.
4.6. Căn cứ theo thần tích và văn bia Quán Giá
Xét về tư liệu thần tích và văn bia Quán Giá, không có một từ nào nói đến Phạm Tu. Văn bia năm Bảo Thái thứ 9 (1728) là văn bản đã tổng hợp từ các văn bia và tư liệu liên quan có trước đó về Lý Phục Man. Văn bản này mang tính kết luận rất thống nhất của các nhà trí thức xưa (các nhà Nho trong đó có nhiều người con hiếu học của làng Giá) về Lý Phục Man. Đây là nguồn tư liệu tin cậy đã được nhiều nhà khoa học uy tín nghiên cứu trong đó tiêu biểu nhất là cố GS. Nguyễn Văn Huyên (1908-1975). Quê của ông ở xã Kim Chung, Hoài Đức cách Quán Giá không xa, nhưng ông cũng không tìm ra tên “khai sinh” của Lý Phục Man từ năm 1938. Chúng ta tin tưởng ông là người có nhiều thông tin về Lý Phục Man nhất khi khai thác tài liệu có những năm ba mươi của thế kỷ trước.
4.7. Vị thế Quán Giá và thần Lý Phục Man
Nói đến đình quán làng Giá phải kể đến lễ hội. Tất cả đều to lớn, độc đáo hàng đầu của đất nước. Nhưng không nên choáng ngợp trước lễ hội Quán Giá và số lượng di tích thờ mà cho rằng Lý Phục Man chỉ đứng sau Lý Nam Đế. Chúng ta xem xét một vài yếu tố tạo nên tầm cao của Quán Giá:
- Trước hết phải kể đến văn hóa của địa phương đã được bảo tồn phát triển, điều đó thể hiện qua lễ hội với sự độc đáo và lớn hàng đầu của nước ta. Làng Giá là một làng Việt cổ trù phú có truyền thống lâu đời rất văn hiến, anh hùng và giàu tính sáng tạo.
- Quan trọng hàng đầu là sự linh ứng của thần Lý Phục Man được chép trong chính sử. Nhất là vị quân vương Lý Thái Tổ có thể nói là một con người với nhiều câu chuyện huyền bí ly kỳ đã gặp thần Lý Phục Man ngay ở Cổ Sở.
- Chuyện được chép trong Việt điện u linh, một tác phẩm làm căn cứ cho các triều đại về sau luôn tập trung sắc phong cho hầu hết các vị thần có trong tác phẩm.
- Vị trí Cổ Sở ngay bên đường thiên lý xứ Đoài, có sông Đáy thông thương lại gần kinh đô do vậy thuận tiện giao thông thủy bộ.
- Tâm nguyện của các triều đại xưa đều mong muốn vị thần ở Quán Giá phù trì để yên ổn bờ cõi nhất là các tộc thiểu số hướng thần án ngữ. Phục Man về sau cũng là việc chống giặc giữ nước, cũng là việc triều đình chống nổi dậy của giặc cỏ, vậy nên Thần Phục Man luôn được các vương triều chú trọng, tôn vinh, được liên tục ban rất nhiều đặc ân.
*
Từ những sự bất hợp lý nêu trên cho thấy dựa vào Đại Việt sử ký toàn thư chúng ta nhận ra hàng loạt điều không thích hợp trong tư liệu ở Quán Giá khi đồng nhất Lý Phục Man với nhân vật lịch sử Phạm Tu.
5. Kết luận
Dựa vào chính sử chúng ta thấy thần Lý Phục Man trong giấc mộng của Lý Thái Tổ (sau 471 năm kể từ khi Phạm Tu mất) không thể là danh tướng Phạm Tu đứng đầu ban Võ của nhà nước Vạn Xuân. Theo thần tích của hai làng: Hãy để quê hương của Phạm Tu ở làng Quang (Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội) và thần Lý Phục Man ở làng Giá (Yên Sở, Hoài Đức, Hà Nội) là một cách làm tôn trọng lịch sử. Không có cơ sở đồng nhất, hãy sử dụng tư liệu về từng nhân vật riêng biệt, không nên lẫn lộn để làm phức tạp vấn đề.
Long Biên, ngày 15/11/2010
_____________
(1) “Lão tướng Phạm Tu”, Lê Văn Lan, 1987.
(2, 3) Đại Việt sử ký toàn thư, Bản dịch của Viện Sử học. Nxb KHXH, Hà Nội
(4) Danh nhân quê hương, Ty Văn hóa thông tin Hà Sơn Bình, 1976.
(5) “Danh tướng Phạm Tu Lý Phục Man là một hay hai người”, Thông báo Hán Nôm học 2009, PGS. TS. Trương Sỹ Hùng, 2009.
Nhãn:
Đi tìm cơ sở,
Tháp Bút
THAY LỜI KẾT
Qua các tài liệu lưu hành 50 năm trở lại đây mà chúng tôi đã khảo sát, ở các tài liệu có trước năm 1980, đặc biệt quan trọng là ba tấm văn bia cổ ghi sự tích của Quán Giá không có một chỗ nào đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu. Đáng chú ý là quốc sử của ta và Trung Quốc cùng hệ thống sách giáo khoa đã không đồng nhất hai nhân vật này. Đến nay có thể khẳng định: tài liệu hiện có về Lý Phục Man phát hành trước năm 1980 không đủ cơ sở cho ông là Phạm Tu người đứng đầu ban Võ nhà nước Vạn Xuân. Tài liệu về Phạm Tu cũng không thể chứng minh ông là Lý Phục Man. Trong khi thông tin về tiểu sử hai nhân vật cũng là riêng biệt mà không thể đồng nhất được: đó là quê hương, tên họ hai vị thân sinh và năm sinh của từng nhân vật. Về tư liệu, có nhiều mâu thuẫn, thiếu cơ sở nên không thể đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu.
Tuy vậy vẫn xảy ra suy đoán trong dân gian, nhưng không đủ cơ sở về khoa học lịch sử. Phải tìm hiểu kỹ lưỡng để hiểu tường tận vấn đề này. Người viết lại Sự tích tướng công Lý Phục Man (bản quốc ngữ đã nêu cuối cuốn “Văn bia Quán Giá”) đã có nhiều hư cấu không thích hợp và không đứng tên dưới tài liệu soạn lại của mình mà chỉ viết dạng tài liệu tuyên truyền trong làng. Chúng ta thấy sự tích thường để giải thích điều gì đó bằng câu chuyện về thời xa xưa không rõ có thực hay không.
Một góc độ khác, huyền bí giữa thực và ảo-vấn đề tâm linh có thể liên quan đến sự xuất hiện của thần Lý Phục Man: Vào năm 1016, danh tướng Phạm Tu có hiện về trong giấc mộng của Lý Thái Tổ mà xưng là thần Lý Phục Man hay không? Ngày nay, câu hỏi đó phải nhờ sự giải đáp của vị Thành hoàng Thăng Long-Hà Nội để loại trừ sự hoài nghi kéo dài bấy lâu.
Theo thần tích của hai làng: Hãy để quê hương của Phạm Tu ở làng Quang Liệt (Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội) và thần Lý Phục Man ở làng Giá (Yên Sở, Hoài Đức, Hà Nội) là một cách làm tôn trọng lịch sử. Không có cơ sở đồng nhất, hãy sử dụng tư liệu về từng nhân vật riêng biệt, không nên lẫn lộn để làm phức tạp vấn đề.
Hà Nội, tháng 10. 2009
Tháp Bút
Tuy vậy vẫn xảy ra suy đoán trong dân gian, nhưng không đủ cơ sở về khoa học lịch sử. Phải tìm hiểu kỹ lưỡng để hiểu tường tận vấn đề này. Người viết lại Sự tích tướng công Lý Phục Man (bản quốc ngữ đã nêu cuối cuốn “Văn bia Quán Giá”) đã có nhiều hư cấu không thích hợp và không đứng tên dưới tài liệu soạn lại của mình mà chỉ viết dạng tài liệu tuyên truyền trong làng. Chúng ta thấy sự tích thường để giải thích điều gì đó bằng câu chuyện về thời xa xưa không rõ có thực hay không.
Một góc độ khác, huyền bí giữa thực và ảo-vấn đề tâm linh có thể liên quan đến sự xuất hiện của thần Lý Phục Man: Vào năm 1016, danh tướng Phạm Tu có hiện về trong giấc mộng của Lý Thái Tổ mà xưng là thần Lý Phục Man hay không? Ngày nay, câu hỏi đó phải nhờ sự giải đáp của vị Thành hoàng Thăng Long-Hà Nội để loại trừ sự hoài nghi kéo dài bấy lâu.
Theo thần tích của hai làng: Hãy để quê hương của Phạm Tu ở làng Quang Liệt (Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội) và thần Lý Phục Man ở làng Giá (Yên Sở, Hoài Đức, Hà Nội) là một cách làm tôn trọng lịch sử. Không có cơ sở đồng nhất, hãy sử dụng tư liệu về từng nhân vật riêng biệt, không nên lẫn lộn để làm phức tạp vấn đề.
Hà Nội, tháng 10. 2009
Tháp Bút
Nhãn:
Đi tìm cơ sở,
Tháp Bút
THÀNH TÂM
Cảm xúc trước sân Đình Ngoại: Dịp Tết Nguyên Tiêu, đất trời Thăng Long-Hà Nội thật đẹp. Xuân ở Đình Ngoại càng tươi sắc. Hòn non bộ hình chữ Tâm ngay trước sân đình sáng rực lên nhờ hoa sống đời (còn gọi hoa bỏng) nở đỏ. Tháp bút khai bút đầu năm lên trang mây những chữ thư pháp gửi hồn dân tộc. Mây bay bay mang thông điệp đến các vùng miền của Tổ quốc. (xem ảnh trang 3)
Chữ Tâm đứng trước cửa Đình
Cho nên con cháu dòng mình hẹn nhau
Xây cho đất nước đẹp giàu
Làm cho con cháu mai sau lẫy lừng
Ngày xuân tiếp bước vui mừng
Thêm bầu khí ấm đến từng tộc gia
Suốt đời từ trẻ đến già
Tri ân Tiên Tổ ấy là đạo con.
Đình Ngoại, Nguyên Tiêu Mậu Tý
Chữ Tâm đứng trước cửa Đình
Cho nên con cháu dòng mình hẹn nhau
Xây cho đất nước đẹp giàu
Làm cho con cháu mai sau lẫy lừng
Ngày xuân tiếp bước vui mừng
Thêm bầu khí ấm đến từng tộc gia
Suốt đời từ trẻ đến già
Tri ân Tiên Tổ ấy là đạo con.
Đình Ngoại, Nguyên Tiêu Mậu Tý
Nhãn:
Nhớ về Phạm Tu,
Tháp Bút
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)