Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Tu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Tu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 9 tháng 4, 2011

Bản tin vắn 2010 về danh tướng Phạm Tu

1. 28/01/2010 Khởi công tu bổ Đình Ngoại
2. 07/6/2010 Khởi công tu bổ đình Ngọc Than (thờ Lý Nam Đế, Phạm Tu)
3. 13-15/7/2010 đã diễn ra kỳ họp HĐND Thành phố Hà Nội lần thứ 21, đường phố mang tên Danh tướng Phạm Tu đã không được đặt nhân dịp Đại lễ 1000 năm Thăng Long
4. 15/8/2010 Diễn đàn bàn về vấn đề đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu (mở ngày 07/9/2009 nhân 1464 năm ngày hy sinh của danh tướng Phạm Tu) đạt 10.000 lượt truy cập
5. Trước ngày lễ trọng, tháng 8/2010 liên tiếp có những công bố tư liệu về Phạm Tu quê ở Thanh Liệt của cùng tác giả Phạm Hồng Vũ:
- Nxb Thanh niên xuất bản cuốn "Đô Hồ Đại vương Phạm Tu (476-545)Công thần khai quốc của nhà nước Vạn Xuân (544-602)".
- Báo Hà Nội mới đăng bài "Danh tướng Phạm Tu"
6. 28/8/2010, lập nơi thờ vọng Phạm Tu tại nhà thờ họ Phạm làng An Ninh Hạ (trên đường Lý Nam Đế) Thành phố Huế
7. 29/8/2010 Kỷ niệm 1465 năm ngày hy sinh của Danh tướng Phạm Tu
8. 06/10/2010 Khánh thành Bảo tàng Hà Nội, Bức tranh thờ Lão tướng Phạm Tu (Đình Ngoại, Thanh Liệt) được đặt trong bảo tàng ghi công người anh hùng có nhiều cống hiến cho Kinh đô


Bức ảnh chụp tại Đình Ngoại khi BLL họ Phạm VN vào dâng hương ngày 20 tháng 7 Bính Tuất (2006)

DANH TƯỚNG PHẠM TU VÀ DI TÍCH ĐÌNH NGOẠI



Danh tướng Phạm Tu (476-545) quê ở xã Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội là nhân vật tài ba, như là kiến trúc sư của nhà nước độc lập giữa thế kỷ thứ VI. (1) Sử sách đã ghi lại rằng Phạm Tu là một trong những người ghi dấu ấn đặc biệt trong công cuộc bảo vệ đất Thăng Long xưa. Những năm gần đây, vai trò của ông càng được làm rõ (2) là Đại Thành hoàng Thăng Long-Hà Nội, người đã:
- Là vị khai quốc công thần triều Tiền Lý, đứng đầu Ban Võ nhà nước Vạn Xuân (vị Tổng Tư lệnh đầu tiên của nhà nước Việt có bộ máy chính quyền)
- Sinh ra bên bờ sông Tô; ở tuổi 70, Ông hy sinh oanh liệt ngay ở chiến thành vùng cửa sông Tô trên đất hương Long Đỗ cổ
- Đánh giặc Bắc: có công lớn trong việc hạ thành Long Biên, giải phóng đất nước, kháng chiến chống quân Lương xâm lược
- Đuổi giặc Nam: người Việt Nam đầu tiên cầm quân giữ yên bờ cõi phía Nam
- Tham mưu cho Lý Nam Đế lập kinh đô, chiến thành cửa sông Tô ở vùng đất Hà Nội thời tiền Thăng Long (3)

Thanh Liệt xưa gọi là Quang Liệt, thế đất được coi là đất đế vương: “Thứ nhất Cổ Bi, thứ nhì Cổ Loa, thứ ba Quang Liệt”. Năm 1690, nhà địa lý Tả Ao đã chọn thế đất đẹp để dựng ngôi đình thờ danh tướng Phạm Tu. (4)


Đến thăm Đình Ngoại bằng phương tiện vận tải công cộng, thuận tiện nhất là đi xe buýt số 37 (Chương Mỹ-Bến xe Giáp Bát) xuống ở điểm dừng UBND xã Thanh Liệt cạnh đình thờ Chu Văn An

Hằng năm cứ đến ngày 20 tháng 7 âm lịch, người họ Phạm ở khắp mọi miền đều tụ lại với nhau để được nối mình với cội nguồn tổ tiên, cùng nhau ôn lại cuộc đời và sự nghiệp của người anh hùng Phạm Tu. Năm 1998, được sự hỗ trợ của Hội Sử học Việt Nam, một hội thảo khoa học diễn ra tại Hà Nội đã suy tôn Đô Hồ Đại Vương Phạm Tu là thượng thủy tổ họ Phạm Việt Nam. (5)
Năm 2008, trước mộ của danh tướng Phạm Tu, lãnh đạo thành phố Hà Nội đã kính cẩn khấn rằng:
...“Sinh vi tướng, tử vi thần”, nhân dân Thăng Long tôn thờ Ngài là vị Thành hoàng của Thủ đô, tin tưởng ở Ngài như tin tưởng ở sức mạnh bất diệt của Dân tộc.
…Chúng con cùng nhân dân nguyện chăm lo, trùng tu, tôn tạo đền thờ Ngài tại xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì để bốn mùa hương khói. Ngay tại trụ sở Ủy ban, chúng con dành một nơi trang nghiêm để hàng ngày tưởng niệm Ngài. (6)
Năm 2011 là năm kỷ niệm lần thứ 1535 năm sinh của Danh tướng Phạm Tu (476-545), vị khai quốc công thần triều Lý Nam Đế (544-602). Năm 2009, UBND thành phố Hà Nội đã có quyết định tu bổ tôn tạo Đình thờ Đô hồ Đại vương Phạm Tu ở chính quê hương Ngài thuộc xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì với dự án có vốn đầu tư 29 tỷ đồng và với khoảng 6 tỷ đồng tiền công đức của thập phương và con cháu dòng họ Phạm. Ngày 28.01.2010, UBND thành phố Hà Nội và UBND huyện Thanh Trì đã tổ chức lễ khởi công Công trình tu bổ và tôn tạo Đình thờ Đô hồ Đại vương Phạm Tu và dự kiến đến ngày 20 tháng 7 âm lịch (tức 19.8.2011) sẽ tổ chức khánh thành đúng vào ngày mất của Ngài. (7)
Đến nay chúng tôi thấy có một số nơi thờ Phạm Tu:
- Xã Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội có 3 nơi thờ: Đình Ngoại, Miếu Vực, Đình Lý Nhân.
- Xã Ngọc Mỹ, Quốc Oai, Hà Nội: Đình Ngọc Than (thờ Lý Nam Đế và Phạm Tu).
- Xã Thụy Văn, Thái Thụy, Thái Bình: Thôn Hoành Sơn.
Có thể còn một số nơi khác thuộc châu thổ sông Hồng, ở xứ Nghệ cũng thờ Phạm Tu. Trong đó có khoảng 200 nơi thờ Lý Nam Đế sẽ có nhiều nơi thờ vị võ tướng số 1 của Hoàng đế như ở Đình Ngọc Than. Việc khảo sát tư liệu cần sự tham gia của các nhà nghiên cứu và sự góp sức của các thành viên họ Phạm trên toàn quốc.

1 – Nhà sử học Bùi Thiết, “Thăng Long – Hà Nội linh thiêng và hào hoa”
2, 4, 5 – Hồng Vũ, “Danh tướng Phạm Tu”
3 – Tháp Bút, “Đi tìm cơ sở đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu”
6 – GS.Vũ Khiêu, “Bài văn khấn Danh tướng Phạm Tu”
7 – Nhà sử học Dương Trung Quốc, “Đề cương tổ chức hội thảo: Danh tướng Phạm Tu và Họ Phạm trong lịch sử”

NHỮNG CỐNG HIẾN CỦA LÃO TƯỚNG PHẠM TU

1. Khai quốc công thần triều Tiền Lý, đứng đầu Ban Võ nhà nước Vạn Xuân (vị Tổng chỉ huy đầu tiên khi nhà nước Việt có bộ máy chính quyền)
2. Sinh ra bên bờ sông Tô; ở tuổi 70, Ông đã hy sinh oanh liệt ngay ở chiến thành vùng cửa sông Tô trên đất hương Long Đỗ cổ
3. Đánh giặc Bắc: có công lớn trong việc hạ thành Long Biên, giải phóng đất nước, rồi kháng chiến chống quân Lương xâm lược
4. Đuổi giặc Nam: người Việt Nam đầu tiên cầm quân giữ yên bờ cõi phía Nam
5. Tham mưu cho Lý Nam Đế lập kinh đô, chiến thành cửa sông Tô ở vùng đất Hà Nội thời tiền Thăng Long
...

XÁC ĐỊNH NHỮNG NƠI THỜ DANH TƯỚNG PHẠM TU

Theo cuốn “Thành hoàng Việt Nam” của Phạm Minh Thảo (Nxb. Văn hóa thông tin, H., 1997, tập II, tr. 565), chúng tôi nhiều lần thăm Đình Ngoại: nơi thờ chính thức của Phạm Tu ở Đình Ngoại, xã Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội. Chính quê ông còn có miếu Vực thờ ông cùng hai vị song thân là Phạm Thiều và Lý Thị Trạch. Thanh Liệt có Đình Lý Nhân được nhân dân lập để thờ vọng Phạm Tu vì Đình Ngoại trước là nơi hương lý hội họp nên dân khó vào.
Phần mộ của ông trên vùng đất cửa sông Tô Lịch (nơi ông ngã xuống khi chống quân xâm lược nhà Lương năm 545) cũng là một địa chỉ tâm linh quan trọng.
Bên cạnh đó, qua cuốn “Linh thần Việt Nam” của GS. Vũ Ngọc Khánh và Phạm Minh Thảo (Nxb. Văn hóa Thông tin, H. 2002), còn tìm được 3 địa phương có thờ vị Đô Hồ Đại vương, tuy nhiên chưa xác định được những nơi đó có phải chính là nơi thờ Đô Hồ Đại vương Phạm Tu hay không.
1. Xã Linh Khê, Nam Sách, Hải Dương thờ 3 vị đại vương: Uy Minh, Quy Chân, Đô Hồ đại vương
2. Xã Hương Vân, tổng Nội Viên, huyện Tiên Du, Bắc Ninh thờ Đô Hồ đại vương và Hải Tịnh phu nhân công chúa
3. Xã Nhân Hào Thượng, tổng Sài Trang, Yên Mỹ, Hưng Yên thờ Đô Hồ tế thế đại vương (Phạm Tu-Nơi thờ cúng đăng trên http://vi.wikipedia.org/)
Ngoài ra, ở đình Hà Trì thuộc quận Hà Đông có thờ Đô Hồ đại vương (không rõ tên thật), nhưng theo thần tích thì đó là một nhân vật làm quan cuối thời Trần, tham gia khởi nghĩa Lam Sơn.
Theo cuốn “Địa chí Hà Tây” của Sở Văn hóa thông tin Hà Tây, xuất bản 2007 thì thần tích làng Ngọc Than thuộc Quốc Oai (bản Vạn Xuân quốc đế ký có ký hiệu AE. A10/27 lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm) cho rằng Phạm Tu tên thật là Phạm Chí. (?)
Làng Ngọc Than xã Ngọc Mỹ, huyện Quốc Oai có thờ Phạm Tu. Trong hàng trăm di tích thờ Lý Nam Đế, Lý Phục Man, … có thể nhiều nơi cũng thờ danh tướng Phạm Tu-vị khai quốc công thần nhà Tiền Lý đã để lại dấu ấn không phai mờ đối với kinh đô Vạn Xuân trên đất tiền Thăng Long.
Trên báo điện tử Thái Bình gần đây công bố một số di tích liên quan đến việc chống giặc thời Tiền Lý như Cổ Trai (Hưng Hà, Thái Bình) nhắc đến Lý Nam Đế, Triệu Quang Phục về đây cự giặc và ở Hoàng Sơn xã Thụy Văn, Thái Thụy, Thái Bình có nơi thờ Phạm Tu. Điều này chứng tỏ vùng châu thổ sông Hồng và xứ Nghệ còn những nơi thờ Phạm Tu từ xa xưa mà chúng ta chưa thể xác định được.
Bên Hồ Tây có di tích từ thời Tiền Lý: đền Bái Ân, chùa Khai Quốc (chùa Trấn Quốc ngày nay), chùa Kim Liên, chùa Bát Tháp, am Phúc-Lộc-Thọ ở Trích Sài thờ phu nhân Vạn Thọ (tên gọi gắn liền với điện Vạn Thọ-nơi triều hội) và 2 công chúa (Vạn Phúc, Vạn Lộc) con gái của Lý Nam Đế có công diệt thủy quái Hồ Tây. Rất có thể Kinh đô Vạn Xuân cũng được xây dựng ở vùng này vì Tô Lịch Giang thành chính là vị trí yết hầu bảo vệ Kinh đô được xây dựng đầu tiên trên đất phía nam sông Hồng vào thời tiền Thăng Long.

Phạm Tu với nhà nước Vạn Xuân

Đàm Hưng

Đại Việt sử ký toàn thư có chép vài nét về tướng Phạm Tu, một trung thần có nhiều võ công vào hàng bậc nhất của Lý Nam Đế trong cuộc đánh đuổi quân đô hộ nhà Lương và sự nghiệp bảo vệ đất nước ở thập kỷ thứ 5 của thế kỷ thứ 6.
Qua thần phả, sắc phong, được biết thêm một phần về ông. Phạm Tu còn gọi là Phạm Đô Tu (vì ông đã dự nhiều cuộc đấu vật lúc trẻ) sinh ngày 20 tháng 3 năm 486 (Bính Thìn) tại xã Quang Liệt (nay là Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội) đồng hương với chí sĩ Chu Văn An.
Ở Thanh Liệt hiện nay còn đền thờ Phạm Tu, đền xây từ lâu được trùng tu trong thời Tự Đức, kiến trúc trên đầu con “rồng đất” bên bờ đầm Thanh Đàm, nghiêm trang, cổ kính: xung quanh có tường gạch, nhiều cổ thụ. Trong đền có các bài vị, hoành phi, phù điêu, bộ áo mũ giáp phỏng chế lại từ triều Lê.

Sắc phong cho Phạm Tu còn giữ lại từ năm Cảnh Hưng thập tứ (1753), dưới triều vua Cảnh Thịnh thời Tây Sơn (1793) và một số sắc phong của triều Nguyễn sau này. Trong các sắc phong, chép công lao với các mỹ từ ngợi ca ông là một vị tướng trí dũng, tận tụy với nước như: “Hộ quốc tế dân” (giúp nước cứu dân), “Anh uy vĩ độ” (anh hùng hào kiệt) v.v. Trong thần phả còn chép về công lao của ông với Nhà nước Vạn Xuân.
Ngay từ năm 541 (Tân Dậu), Phạm Tu không chịu nổi ách đô hộ tàn bạo nhà Lương, đã tập hợp trai tráng trong xã chống lại. Vì thế tại đình Thanh Liệt ngày nay, còn bức hoành phi ghi năm chữ “Thanh Liệt xã nghĩa dân”. Sang năm Nhâm Tuất (542), cuộc khởi nghĩa toàn dân do Lý Bí lãnh đạo nổ ra, Phạm Tu liền đem số quân vừa chiêu tập được sát nhập vào nghĩa quan Lý Bí. Không đầy ba tháng, vào mùa xuân năm 542, với khí thế nổi dậy, bốn phương quy tụ như mây hợp, nghĩa quân cùng nhân dân đã quét sạch bè lũ nhà Lương đô hộ. Phạm Tu được giao trọng trách cầm quân tiên phong đánh chiếm thành Long Biên trị sở của bọn đô hộ trên đất nước ta. Tên thứ sử Tiêu Tư gian ác phải tháo chạy về nước. Ngay năm đó nhà Lương phái một đạo quân sang đánh báo thù, nhưng vừa tới biên ải, chúng đã bị quân ta đánh bại. Đất nước ta hồi đó từ Châu Giao đến Châu Đức được giải phóng (miền Bắc ngày nay, từ biên giới phía Bắc đến đèo Ngang).
Năm 543 (Quý Hợi) nhà Lương lại tổ chức một cuộc phản kích lần thứ 2. Lý Bí cùng Phạm Tu chỉ huy nghĩa quân chặn đánh quân giặc ngay từ biên giới phía bắc. Một trận tiêu diệt chiến lớn diễn ra ở biên ải Hợp Phố (lúc ấy thuộc Châu Giao). Theo sử cũ, quân lương mười phần chết sáu, số còn lại tan rã. Tướng giặc là Tôn Quýnh và Lư Tử Hùng do thua trận đã bị vua Lương bắt tự tử (Đại Việt sử ký toàn thư).
Sang mùa hạ năm sau (543) vua Lâm Ấp đem quân ra cướp Nhật Nam (vùng Hà Tĩnh). Một lần nữa Phạm Tu lại đem quân lên đường dẹp giặc. Quân Lâm Ấp bị đánh bại, gọng kìm phía nam bị bẻ gãy. Tháng giêng năm Giáp Tí (544), nhà nước Vạn Xuân được thành lập, Lý Bí tự xưng là Nam Đế. Phạm Tu được cử làm tướng võ trông coi binh quyền.
Trong sự nghiệp xây dựng đất nước, Phạm Tu là người có công nhiều trong việc trấn trị các lực lượng chưa thuần phục, mang tính chất cát cứ. Vì thế ông được Lý Nam Đế phong chức Phục Man tướng quân và cho đổi họ. Vì thế nhân dân còn gọi Phạm Tu là Lý Phục Man.
Tuy cả hai lần trước đã thất bại, ỷ vào thế quân đông, với thói tham bành trướng, nhà Lương lại cử Trần Bá Tiên đem thủy quân sang đánh Nhà nước vạn Xuân non trẻ. Lý Nam Đế cùng Phạm Tu đem 30 nghìn quân bày trận chống lại ở Chu Diên (Hải Hưng). Sau một trận kịch chiến, quân của Phạm Tu bị thua, phải lui về giữ ở sông Tô Lịch (phía tây Hà Nội, khu vực Thụy Khuê-Bưởi). Một trận huyết chiến lớn diễn ra ở đó. Bị một mũi tên bắn lén, Phạm Tu đã hy sinh bên dòng sông Tô, chính ở nơi ông đã sinh ra. Hôm đó là ngày 20-7-545 (Ất Sửu).
Phạm Tu đã đứng lên tụ họp nhân dân chống giặc từ buổi đầu, đã tham gia bắc phạt, nam chinh suốt đời vì nước quên thân, làm tròn trách nhiệm của cháu con vua Hùng giữ nước, để lại niềm tự hào cho con cháu đời sau.
(Báo Hà Nội mới trang 2 ngày 11/9/1983)

Lý Phục Man có phải là Phạm Tu hay không?

Nguyễn Khắc Đạm
Gần đây, trên báo Hà Nội mới số chủ nhật 11-9-1983 trong bài: “Tướng Phạm Tu với nhà nước Vạn Xuân” tại trang 2, sau khi nêu lai lịch và chiến công của Phạm Tu, viên tướng giỏi của Lý Nam Đế, ông Đàm Hưng viết:
“Trong sự nghiệp xây dựng đất nước, Phạm Tu là người có công nhiều trong việc trấn trị các lực lượng chưa thuần phục, mang tính chất cát cứ. Vì thế ông được Lý Nam đế phong chức Phục Man tướng quân và cho đổi họ. Vì thế nhân dân còn gọi Phạm Tu là Lý Phục Man.”
Để xác định Phạm Tu có phải là Lý Phục Man hay không, chúng ta không thể không căn cứ vào nhiều nguồn tư liệu khác nhau, đặc biệt là vào những thư tịch cổ đời xưa để lại.
Trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư chúng ta thấy chép trong kỷ nhà Tiền Lý:
“Quý Hợi...(543)... mùa hạ, tháng 4, vua Lâm Ấp cướp quận Nhật Nam, vua sai tướng là Phạm Tu đánh tan ở quận Cửu Đức”.
“Giáp Tý...(544)... vua nhân đánh được giặc, tự xưng là Nam Việt đế, lên ngôi... lấy Triệu Túc làm thái phó, bọn Tinh Thiều, Phạm Tu đều làm tướng văn và tướng võ(1).”
Đến kỷ nhà Lý, chúng ta lại thấy chép việc Lý Thái Tổ đến bến đò Cổ Sở và nằm mê thấy Lý Phục Man cũng như việc quân xâm lược Nguyên Mông đời Trần khi đến Cổ Sở đều bị đánh bại(2).
Như vậy bộ thống sử cổ nhất xuất hiện từ nửa cuối thế kỷ XV mà chúng ta còn giữ lại được đến ngày nay đã chép rõ rệt Phạm Tu và Lý Phục Man là hai người khác nhau.
Cuốn Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên, một trong những tập truyện cổ nhất, xuất hiện vào nửa đầu thế kỷ XIV cũng viết về Lý Phục Man và Phạm tu là hai người khác nhau. Trong truyện: “Chứng an minh ứng hiệu Quốc công” Lý Tế Xuyên cho rằng, theo tập Ngoại sử ký của Đỗ Thiện, một tác phẩm xuất hiện từ thế kỷ XII, thì Lý Phục Man là tướng của Lý Nam Đế, có công đánh đuổi được giặc Chiêm Thành ở trấn Giáp Sơn (vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh ngày nay) và khi chết được nhân dân Yên Sở lập đền thờ. Lý Tế Xuyên cũng cho biết Lý Phục Man được vua cho trấn giữ đất Đỗ Động, Đường Lâm (ứng với địa phận các huyện Phúc Thọ, Quốc Oai, Thanh Oai ngày nay), và trong hai cuộc chiến tranh giữ nước chống quân xâm lược Nguyên – Mông trên đất nước ta năm 1257 và 1287, xã Yên Sở (có tên là Cổ Sở đời Trần), quê hương của Lý Phục Man, đều lập được chiến công oanh liệt, tiêu diệt được nhiều quân giặc khiến cho chúng không xâm phạm được tới làng. Đến truyện: “Triệu Việt Vương và Lý Nam Đế”, Lý Tế Xuyên lại cho biết Lý Bôn có sai tướng là Phạm Tu đánh giặc ở Cửu Đức.
Có điều là, trong bản dịch Việt điện u linh, dịch giả Trần Đình Rư có đưa thêm bản phụ chép sự tích thần Yên Sở, lấy ra từ cuốn Đại Việt ngoại sử, nên chúng ta được biết Phục Man còn được Lý Nam Đế phong làm đại tướng và vì Lý Phục Man có công phá được giặc Lâm Ấp ở quận Cửu Đức (Thanh - Nghệ - Tĩnh ngày nay) nên được nhà vua gả cho công chúa Lý Nương và tặng thê chức thái úy, đứng đầu các quan. Hẳn tư liệu Lý Phục Man đứng đầu các quan và đánh thắng quân Chiêm Thành phù hợp với tài liệu của Đại Việt sử ký toàn thư nói Phạm Tu đứng đầu các quan võ và cũng đánh thắng quân Chiêm Thành đã khiến cho ông Đàm Hưng đồng nhất Phạm Tu với Lý Phục Man. Nhưng chính bản phụ chép sự tích thần Yên Sở này còn cho biết sau khi Lý Nam Đế chết năm 547, thì Lý Phục Man bị man binh đánh úp rồi bị bị giặc đuổi gấp nên đã phải quyên sinh. Thế mà theo nhà sử học Nguyễn Lương Bích trong cuốn Những người trẻ làm nên lịch sử (NXB Thanh niên, Hà Nội 1974, tr. 152-169) thì căn cứ vào thần phả, Phạm Tu lại là người xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, tham gia khởi nghĩa cùng Lý Bí năm 541, khi 65 tuổi đánh thắng giặc Lâm Ấp ở quận Cửu Đức năm 543 khi 67 tuổi và chết năm 545 khi 69 tuổi. Tư liệu quan trọng này về Phạm Tu khiến cho người ta không thể đồng nhất được Lý Phục Man với Phạm Tu. Vì Lý Phục Man quê ở xã Yên Sở, huyện Đan Phượng, còn Phạm Tu thì quê ở xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, khi tham gia khởi nghĩa với Lý Bí, Lý Phục Man mới còn là một người trẻ tuổi, còn Phạm Tu thì đã là một người già. Cũng vì thế mà Lý Phục Man sau khi thắng Chiêm Thành mới được Lý Nam Đế gả công chúa cho, còn Phạm Tu với cái tuổi 67 kh thắng giặc Chiêm thì hẳn không thể nào còn được vua gả con gái cho nữa. Phạm Tu lại chết năm 545, khi Lý Nam Đế còn sống, còn Lý Phục Man lại chết sau khi Lý Nam Đế băng hà năm 547.
Bộ Đại Nam nhất thống chí, tập IV (NXB khoa học xã hội, Hà Nội, 1971, tr. 226) cũng cho biết thần xã Yên Sở, huyện Đan Phượng là Lý Phục Man, vì lập được nhiều chiến công nên được nhà vua cho tên là Phục Man và cho quốc tính là Lý, lại thăng lên chức thiếu úy (chứ không phải là thái úy, hàm ngang với chức tể tướng đầu triều như cuốn Đại Việt ngoại sử nói). Nhưng khác với bản phụ chép về Lý Phục Man, trong bản dịch Việt điện u linh, bộ Đại Nam nhất thống chí lại nói Lý Phục Man bị người Chiêm Thành đánh bại nên tự tử. Ngoài sự kiện Lý Thái Tổ đến bến Cổ Sở (tức Yên Sở, Cổ Sở là tên cũ của xã Yên Sở) nằm mơ thấy Lý Phục Man nên cho lập đền và tô tượng theo hình dáng người trong mộng cũng như hàng năm tế tự, bộ Đại Nam nhất thống chí còn cho biết việc vua Trần Thái Tôn đi tuần du, nghỉ ở bến Cổ Sở lại nằm mơ thấy Lý Phục Man nên đã sai sửa lại đền và gia phong.
Trong tập Tiền Lý Nam Đế sự tích quốc âm của Phượng Thành dã sĩ viết năm Gia Long thứ hai (1803), bản chép tay do ông Nguyễn Bá Hân người làng Yên Sở sưu tầm được trong vùng, đoạn:
“Mưu trong đành cậy Tinh Thiều
Lầu thông quốc kế quyết liều dặm xa
Chống ngoài Phục Man, Phạm Tu
Những tài bá nghiệp vương đồ trên tay”
Khiến cho người ta có thể tưởng Phục Man là Phạm Tu. Nhưng đoạn khác ở phía dười kể về việc đánh Chiêm Thành lại viết:
“Phạm Tu vâng mệnh binh ban
Đem quân tiến hiển phá tan một giờ
Chông chênh mặt ấy khôn lo
Cửa trùng chọn kẻ xứng vừa phân ly
Ngọc ân hoán phải luân ty
Sai quan thiếu úy trước thì Phục Man.”
Đoạn sau rõ ràng nói tới hai việc: việc bình Chiêm toàn thắng của Phạm Tu và việc người đi trấn giữ nơi phên dậu của đất nước Vạn Xuân là quan thiếu úy Phục Man. Mà đất phên dậu của nước Vạn Xuân thời này phải gồm có nhiều vùng và đất Đỗ Động, Đường Lâm được Lý Phục Man trấn giữ là một trong các vùng ấy. Đọc được đoạn sau, chúng ta có thể dễ dàng bổ sung dấu phẩy, cái dấu mà đời xưa chưa biết sử dụng, và chúng ta có thể thấy rằng trong đoạn trên tác giả Tiền Lý Nam Đế sự tích quốc âm cũng định viết Phục Man và Phạm Tu là hai người khác nhau chứ không phải một.
Điểm lại nội dung các thư tịch cổ, chúng ta rõ ràng thấy rằng, không có một thư tịch nào nói Lý Phục Man là Phạm Tu. Có điều là tư liệu ở Đại Việt sử ký toàn thư nói Phạm Tu đứng đầu các quan võ, lại từng đánh thắng Chiêm Thành có phần nào trùng hợp với tư liệu ở Đại Việt ngoại sử nói Lý Phục Man vì có công đánh Chiêm Thàh nên được Lý Nam Đế thăng chức thái úy, đứng đầu các quan nên khiến người ta có thể có khuynh hướng đồng nhất hai người là một. Nhưng tất cả các tư liệu khác đều thấy rõ Lý Phục Man và Phạm Tu là hai người khác nhau với quê quán khác nhau, tuổi tác và ngày chết khác nhau. Nếu theo cấp bậc quân đội hiện nay thì chúng ta có thể ví Phạm Tu với đại tướng tổng tư lệnh và Lý Phục Man với cấp chỉ huy sư đoàn hoặc quân đoàn. Việc Lý Phục Man được cử đi trấn trị đất Đỗ Động – Đường Lâm cũng cho thấy rõ ông khác với Phạm Tu vị đứng đầu các quan võ nên phải ở trong triều để chỉ huy toàn quân. Tổng hợp tất cả các nguồn tư liệu, kể cả những tư liệu thư tịch, tư liệu truyền thuyết và thực tế địa phương, chúng ta có thể xác định được Lý Phục Man là người võ nghệ cao cường, cưỡi ngựa, bắn cung đều giỏi, “có sức trị được voi”, còn trai trẻ đã tham gia khởi nghĩa cùng Lý Bí và đã lập được nhiều chiến công đánh quân nhà Lương và nhất là quân Chiêm Thành, nên được Lý Nam Đế ban tước hiệu là Lý Phục Man, cho quốc tính là Lý, gả con gái cho, cử đi giữ đất Đường Lâm, Đỗ Động. Sau khi Lý Nam Đế chết năm 547, trong một trận bị man binh tập kích Lý Phục Man đã bị thua chạy, phải quyên sinh rồi được chôn ở bãi sông làng Yên Sở (Tư liệu của Đại Nam nhất thống chí cho rằng Lý Phục Man bị người Chiêm Thành đánh bại nên tự tử không phù hợp với viên đá lớn ở cánh đồng Yên Sở với dấu chân ngựa và đầu ông, nên không thể đứng vững được). Người ta không rõ tên thực của ông là gì, chắc vì cái tên Lý Phục Man được Lý Nam Đế ban cho ông, được người ta quen dùng đến mức tới thời có sắc thần vua phong thì người ta đã không còn biết tên cũ của ông là gì nữa.
Dân làng Yên Sở từ ngàn xưa đã rất quý trọng con người anh hùng của mình nên đãlập đền thờ ông sau khi chết. Hẳn cũng vì thế nên mấy trăm năm sau, Lý Thái Tổ nhân khi đi tuần du nghỉ ở bến làng Yên Sở (xưa có tên là bến Hồ Mã) mới tham quan đền, hỏi han dân chúng sự tích thần nên mới cảm kích và nằm mơ thấy thần và đã cho tạo tượng cũng như lập đền thờ mới hẳn là to đẹp hơn đền thờ cũ. Rồi, hẳn vì sự tồn tại của ngôi đền thờ to đẹp này mà mấy trăm năm sau, Trần Thái Tôn khi đi tuần du qua đây cũng đến tham quan đền, cũng nằm mơ thấy thần và cho sửa lại đền. Và với sự đặc biệt chăm sóc của hai vị vua sáng lập ra triều Lý và triều Trần này, cũng như với các biện pháp khác như các nhà vua bớt thuế cũng như lực dịch cho dân làng Yên Sở, nên dân làng mới có điều kiện hàng năm tổ chức tế thần một cách linh đình và mới có điều kiện xây dựng một ngôi đình to lớn, quy mô rộng rãi vào bậc nhất ở nước ta đời xưa, với kiến trúc, trang trí độc đáo và với cả một khu rừng cấm nơi chôn Lý Phục Man ở sau đình. Cũng nên lưu ý là, ngoài Yên Sở là quê quán Lý Phục Man, còn có nhiều nơi khác tại ngoại thành Hà Nội, Hà Sơn Bình, Hà Nam Ninh và Hải Hưng thờ ông. Ở những nơi thờ ông nói chung, người ta thường kiêng tên Man và nói trệch là Miêng hay Men. Như mắng ai là “man trá” thì người ta nói là “đồ men trá”.
Tháng 12-1983
Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 6-1983, tr.70-72
(1) Đại Việt sử ký toàn thư. Bản dịch của Viện Sử học, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội, T. I. tr. 118.
(2) Như trên, tr. 193-196.

Kẻ Giá – Một làng chiến đấu truyền thống tiêu biểu và người anh hùng Lý Phục Man

Phan Huy Lê
(trích phần đầu bàn về việc đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu)

Làng chiến đấu, kết hợp giữ làng với giữ nước, cứu làng với cứu nước là một truyền thống lâu đời và phổ biến của nhân dân ta. Truyền thống đó phản ánh chủ nghĩa yêu nước sâu sắc của nhân dân, tính nhân dân rộng lớn của các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm và vai trò quan trọng của cơ cấu làng xã trong lịch sử giữ nước của dân tộc. Có thể nói, từ biểu tượng Thánh Dóng mang tính chất huyền thoại của buổi đầu mở nước cho đến những trang sử chống xâm lược thời chống Tần trước Công nguyên, chống Bắc thuộc kéo dài hơn nghìn năm, rồi đến chống Tông, Mông-Nguyên, chống Minh, Thanh thời trung đại; chống Pháp, Nhật chống Mỹ thời cận hiện đại; trong lịch sử Việt Nam không có cuộc kháng chiến giữ nước nào, không có cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng nào lại không có sự tham gia tích cực của nhân dân các làng xã với những làng chiến đấu oanh liệt.
Trong xã hội Việt Nam cổ truyền, thiết chế cơ bản và bền vững của xã hội là làng (công xã, nông thôn) và nước (quốc gia-dân tộc-tổ quốc), còn có các đơn vị hành chính do nhà nước đặt ra mang tính chất biến động theo các vương triều. Dưới các chế độ áp bức bóc lột giai cấp, giữ làng và nước có mặt đối lập vì làng bị nhà nước thống trị bóc lột tô thuế, lao dịch, binh dịch, nhưng lại có mặt gắn bó chặt chẽ trong những lợi ích chung của cộng đồng, nhất là trong cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên, khai hoang, đắp đê, làm thủy lợi và trong đấu tranh chống ngoại xâm bảo vệ độc lập dân tộc. Chính trên cơ sở đó đã tạo ra thế trận làng – nước và quy định vai trò chiến lược của làng chiến đấu trong lịch sử giữ nước của dân tộc ta.
Lịch sử Kẻ Giá, tức làng Cổ Sở trước đây và xã Yên Sở, Đắc Sở hiện nay (huyện Hoài Đức-Hà Nội), cung cấp cho chúng ta hình ảnh một làng chiến đấu khá tiêu biểu.
*
Kẻ Giá nằm trong một vùng tụ cư khá sớm bên bờ sông Đáy. Tại vùng này, khảo cổ học đã tìm thấy di chỉ gò Vườn Chuối thuộc giai đoạn Đồng Đậu, có niên đại các-bon phóng xạ là 370010, di chỉ Chùa Bài (Vinh Quang) lớp dưới thuộc giai đoạn Gò Mun có niên đại 3046120, và di chỉ gò Chiền Vậy (An Thượng) thuộc giai đoạn Đông Sơn có niên đại 2350100 năm cách ngày nay. Như vậy là từ trong thời đại dựng nước đầu tiên, một số xóm làng định cư đã được thành lập trên ven bờ sông Đáy, trong đó bao gồm vùng đất sau này có Kẻ Giá. Có thể coi đó là những trang sử hình thành vùng Kẻ Giá.
Vào thế kỷ VI, Kẻ Giá với tên làng Cổ Sở, hẳn đã trở thành một làng xã ổn định và được ghi vào sử sách với sự tích Lý Phục Man. Tất cả các nguồn tư liệu, từ thư tịch cổ như Đại Việt sử ký toàn thư, Việt điện u linh, Đại Nam nhất thống chí,... đến thần tích, bi ký, truyền thuyết địa phương, đều xác nhận Lý Phục Man, người Cổ Sở, tham gia cuộc khởi nghĩa Lý Bí và có công lớn trong sự nghiệp chống Lương, giải phóng đất nước năm 542. Sau đó Lý Phục Man được phái vào nam, đánh tan quân giặc ở Cửu Đức (Nghệ Tĩnh) rồi trấn giữ vùng Đường Lâm (Ba Vì-Hà Nội), Đỗ Động (Thanh Oai-Hà Sơn Bình). Năm 545, nhà Lương phái quân sang xâm chiếm lại nước ta. Lý Phục Man tham gia cuộc kháng chiến chống Lương và hy sinh trong chiến đấu. Thi hài ông được đưa về bến Hồ Mã, an táng tại quê hương. Đó là khu Mả Thánh, cây cối mọc như rừng nên còn gọi là Rừng Giá hay Rừng Cấm có tiếng linh thiêng: “Rừng Giá cái lá cũng thiêng”. Nhân dân thương nhớ lập miếu thờ và suy tôn ông làm Thành hoàng làng. Năm 1016, vua Lý Thái Tổ qua bến Cổ Sở, đã sai lập đền và đắp tượng Lý Phục Man. Từ đó, các triều vua đều có sắc phong và hàng năm, vào ngày 10 tháng 3, tương truyền là ngày sinh của Thánh Giá, nhân dân lại mở hội nhằm tưởng niệm và nêu cao công lao, sự nghiệp người anh hùng.
Lễ “Niêm quân” trong hộ Giá còn cho thấy, không chỉ có Lý Phục Man tham gia cuộc khởi nghĩa Lý Bí, mà đông đảo nhân dân làng Giá đã vùng dậy cùng với người anh hùng của quê hương, góp phần tạo nên thắng lợi của sự nghiệp cứu nước. Trong lễ “Niêm quân”, mọi tầng lớp xã hội, mọi lứa tuổi kể cả gái trai, tiêu biểu cho toàn dân Kẻ Giá, đều ăn mặc nai nịt gọn gàng, xếp thành đội hình hàng một, đi xoáy trôn ốc rồi tập hợp lại trước sân đình. Tuổi tác của đôi dân binh tượng trưng có thể phân biệt được qua sắc phục: già áo đỏ, trẻ áo đen, tráng đinh quần trắng. Đó là một hình thức diễn xướng dân gian tả lại cảnh quần chúng đi theo người anh hùng đánh giăc cứu làng, cứu nước.
Không còn nghi ngờ gì, Lý Phục Man và nhân dân làng Giá đã tham gia và có cống hiến xuất sắc trong cuộc chiến đấu, thành lập và bảo vệ nhà nước Vạn Xuân độc lập thế kỷ VI. Theo Việt điệu u linh và những tư liệu địa phương thì Lý Nam Đế cũng đã đánh giá cao công lao của Lý Phục Man khi ban cho họ vua (họ Lý) và tước hiệu Phục Man, rồi lại gả công chúa cho ông.
Ở đây có một vấn đề đang đặt ra, cũng là điều băn khoăn mà cán bộ và nhân dân Yên Sở hiện nay mong được sự quan tâm, xác minh của các nhà khoa học. Đó là mối quan hệ giữa Lý Phục Man và Phạm Tu: là một hay hai người và quan hệ với nhau như thế nào?
Các công trình nghiên cứu về Lý Phục Man hay có liên quan đến nhân vật này, cho đến nay còn phản ánh những cách nhìn nhận khác nhau về vấn đề trên.
Công trình nghiên cứu khoa học công phu đầu tiên về Lý Phục Man là tác phẩm Góp phần nghiên cứu một vị Thành hoàng An Nam Lý Phục Man của Nguyễn Văn Huyên, xuất bản năm 1938. Trong tác phẩm này, tác giả không kể đến Phạm Tu trong số tướng lĩnh của Lý Nam Đế và khi dịch bài văn bia năm Bảo Thái thứ 9 (1728) ở Quán Giá viết về sự tích Lý Phục Man đánh giặc ở Cửu Đức, tác giả có một chú thích đáng lưu ý: “Đại Việt sử ký toàn thư không ghi tên Lý Phục Man, mà lại chép chiến công...ở Cửu Đức cho một tướng An Nam tên là Phạm Tu” (1). Tác giả ngờ Lý Phục Man là Phạm Tu, nhưng không khẳng định rõ ràng.
Ý kiến của Nguyễn Văn Huyên đã được một số tác giả gần đây khẳng định. Trong tài liệu Đình Yên Sở của Ty văn hóa-thông tin Hà Tây viết năm 1968 và bài Phạm Tu và nhà nước Vạn Xuân của Đàm Hưng đăng trên báo Hà Nội mới ngày 11-9-1983, tác giả cho rằng Lý Phục Man tên là Phạm Tu.
Trong khi đó Nguyễn Khắc Đạm trong bài viết Lý Phục Man, người con quang vinh của làng Giá, vẫn còn dè dặt, chỉ nêu lên nghi vấn về Lý Phục Man và Phạm Tu mà không kết luận(2).
Nhưng một số nhà nghiên cứu khác thì cho rằng Lý Phục Man và Phạm Tu là hai nhân vật khác nhau: Lý Phục Man quê ở Yên Sở (Hoài Đức-Hà Nội), Phạm Tu quê ở Thanh Liệt (Thanh Trì-Hà Nội). Đó là ý kiến của Chí Kiên trong Danh nhân Hà Nội và Trần Quốc Vượng trong Hà Nội nghìn xưa(3). Gần đây, Nguyễn Khắc Đạm cũng chuyển sang ý kiến này(4).
Như vậy là đã hình thành ba quan niệm khác nhau về mối quan hệ giữa Lý Phục Man và Phạm Tu: - là một người, - là hai người, - hoài nghi chưa kết luận.
Quả thật sử sách ghi chép không rõ ràng và những tư liệu thu thập được cho đến nay đều có thể khai thác, theo những góc độ khác nhau để chứng minh cho những quan điểm trái nhau.
Gần đây, tôi có về khảo sát cả hai vùng Yên Sở, Thanh Liệt và thu thập, đối chiếu những tư liệu đã được phát hiện về Lý Phục Man và Phạm Tu. Tôi cũng băn khoăn và thấy chưa thể kết luận một cách vội vàng.
Theo một số tư liệu nào đó thì hình như Lý Phục Man và Phạm Tu là một người. Có thể nêu lên những căn cứ sau đây để chứng minh cho một lập luận như vậy:
1) Đại Việt sử ký toàn thư khi viết về khởi nghĩa Lý Bí, không chép Lý Phục Man(5) mà chỉ chép Phạm Tu với chiến công đánh tan quân giặc ở Cửu Đức năm Quý Hợi (543), mùa hạ, tháng tư, khi quận Nhật Nam, bị cướp phá(6). Việt sử tiêu án của Ngô Thì Sĩ và Đại Việt sử ký tiền biên đời Tây Sơn cũng chép như vậy. Nhưng theo Việt điện u linh cũng như văn bia năm Bảo Thái thứ 9 (1728) ở Quán Giá và truyền thuyết phổ biến ở vùng Sấu Giá thì chiến công đó lại thuộc về Lý Phục Man. Việt điện u linh chép sự kiện này khá cụ thể, khi có giặc “...vào cướp quận Cửu Đức. Được tin cấp báo, triều đình họp bàn việc đi đánh, các quan đều nói: Tất phải Đỗ Động tướng quân mới dẹp được giặc này. Vua bèn cử đại vương đốc suất các tướng đem binh vào nam... Tin thắng trận báo về kinh đô, vua khen ngợi hồi lâu, bảo các rằng: Tre già mới biết dao sắc, có gặp lúc gian nguy mới biết người tài giỏi. Nay Đỗ Động tướng quân bắn vài phát tên mà phá tan quân giặc giữ, thật là một người đất Sơn Tây, dẫu bậc danh tướng đời xưa cũng không hơn được, cần phải trọng thưởng”(7).
So sánh hai tư liệu thì Lý Phục Man phải là Phạm Tu và phù hợp với truyền thuyết vùng Kẻ Giá nói rằng, Phạm Tu được vua ban cho họ Lý, tước hiệu Phục Man nên gọi là Lý Phục Man.
2) Theo Đại Việt sử ký toàn thư, “mùa xuân năm 544, Lý Bí lên ngôi hoàng đế, đặt tên nước là Vạn Xuân, lấy Triệu Túc làm thái phó, Tinh Thiều, Phạm Tu đều làm tướng văn, tướng võ”(8). Triệu Túc với chức thái phó giữ cương vị gần như tể tướng, và Tinh Thiều đứng đầu hàng quan văn, Phạm Tu đứng đầu hàng quan võ. Việt điện u linh lại chép Lý Phục Man được thăng chức thái úy đứng đầu các quan. Văn bia năm Bảo Thái thứ 9 và Đại Nam nhất thống chí chép Lý Phục Man được thăng chức thiếu úy(9), nhưng văn bia cũng ghi rõ: “tham nghị mạc phủ, đứng đầu trăn quan”.
Theo quan chế xưa thì các chức tam thái, tam thiếu là cao nhất, trong đó chức thái úy, thiếu úy là chức võ quan đứng đầu hàng quan võ. Một lần nữa, chức vụ và cương vị của Lý Phục Man và Phạm Tu trong triều đình Vạn Xuân làm cho người ta ngờ rằng hai người chỉ là một.
Căn cứ chính để cho rằng Phạm Tu và Lý Phục Man là hai người, là những tư liệu về quê quán Phạm Tu, ở Thanh Liệt (Thanh Trì-Hà Nội). Xã Thanh Liệt xưa là Quang Liệt, có tên nôm là làng Quang nổi tiếng “vải Quang, húng Láng”. Tại đây, còn đền thờ Phạm Tu ở thôn Trung nhìn ra đầm Tròn (Thanh Đàm) và đầm Nguộc (Ngọc Đàm), mà theo các cụ già địa phương xưa kia là một đầm lớn. Trong đền còn giữ được 13 đạo sắc từ năm Cảnh Hưng thứ 1 (1740) đến năm Khải Định thứ 9 (1924), một bản thần tích, một bức tranh Phạm Tu và hai câu đối ca ngợi sự nghiệp chống Lương của Phạm Tu.
Bức tranh do cụ Nhiêu Cỏn ở Linh Đường vẽ lại trên giấy tây trong thời gian gần đây và hiện nay tác giả còn sống. Hiện vật có giá trị hơn là bức tranh lụa đã rách nát, bị vò nhét vào một hộp gỗ đặt trên bàn thờ. Đó là bức tranh “Đô Hồ đại vương thần tượng” tức Phạm Tu và các tướng lĩnh của ông.
Bản thần tích thì rất sơ lược và sao chép không cẩn thận, có chữ để trống hay bỏ sót. Theo các cụ già địa phương, thần tích cũ bị mất và các cụ mới sao lại thần tích này ở đền Hùng (?) vào năm Bảo Đại thứ 9 (1934). Theo thần tích, Phạm Tu hay Phạm Đô Tu, con ông Phạm Thiều và bà Lý Thị Trạch, sinh ngày 12 (10?) năm Bính Thìn (21-4-476). Năm Tân Dậu (541), Phạm Tu theo Lý Bí khởi nghĩa chống quân Lương, rồi được phong làm tướng võ. Năm Ất Sửu (545), Phạm Tu tham dự cuộc kháng chiến chống quân Trần Bá Tiên và bị tử trận ngày 20 tháng 7 (20-8-545), được phong Long Biên hầu, thụy là Đô Hồ.
Một đôi câu đối và truyền thuyết dân gian làng Quang nói Phạm Tu vốn người thôn Văn, cùng quê với Chu Văn An đời Trần. Người ta nói ở thôn Văn còn có dòng họ Phạm và một tấm bia ghi về Phạm Tu. Nhưng kết quả khảo sát tại thôn Văn cho thấy ở đây có dòng họ Phạm và một bia hậu, nhưng không liên quan gì đến Phạm Tu. Bia hậu mới dựng năm Giáp Ngọ, niên hiệu Thành Thái (có lẽ là Giáp Thìn, năm 1904), chép về ông tổ của dòng họ này là Phạm Tế, từ Thanh Hóa ra đây được 5 đời, nghĩa là khoảng cuối thế kỷ XVIII hay đầu thế kỷ XIX. Khách quan mà xét, dấu tích của Phạm Tu ở Thanh Liệt không được rõ ràng lắm. Không ai nghi ngờ làng Quang thờ Phạm Tu làm thành hoàng, nhưng chưa có cứ liệu gì đáng tin cậy chứng tỏ Phạm Tu quê ở làng này.
Trong khi đó, dấu tích của Lý Phục Man ở làng Giá lại rất rõ nét. Ở đây, ngoài đình quán với đồ thờ, câu đối, truyền thuyết dân gian, hội Giá hàng năm nổi tiếng khắp vùng, còn có 5 tấm bia ở quán Giá với những niên hiệu Vĩnh Tộ (1616-1628), Cảnh Trị năm thứ 1 (1663), Bảo Thái năm thứ 9 (1728), Gia Long năm thứ 2 (1803) và Tự Đức năm thứ 7 (1854), một số tư liệu văn tự và nhiều di tích về quê quán, mồ mả của Lý Phục Man.
Theo những tư liệu địa phương này, Lý Phục Man vốn tên thật là Phạm Tu, cha là Phạm Tôn, người xóm Lã Xá (sau đổi là Lã Cầu) thuộc giáp Quả Tây (sau đổi là Cảo Tây). Tại đây còn di tích chùa Lựa, thực ra là một miếu thờ nhỏ dựng trên mô đất khoảng nửa sào, có ao hình yên ngựa bao bọc ba mặt. Ngoài miếu có chữ “Thử địa linh” và bên trong có chữ “Tối linh từ”. Tương truyền ngôi miếu được dựng trên nền nhà cũ của Phạm Tu. Ở làng Giá, kể cả Yên Sở và Đắc Sở, hiện nay không còn họ Phạm, nhưng theo danh sách 14 giáp được ghi trong bia Cảnh Trị năm thứ 1 thì lúc đó giáp Quả Tây có họ Phạm.
Bằng phương pháp so sánh, đối chiếu, các tư liệu trên có thể cho phép nghĩ rằng: Lý Phục Man và Phạm Tu là một người. Nhưng tôi chưa coi đó là một kết luận khoa học vì quả thực tư liệu còn có chỗ mơ hồ và chưa xác minh được chắc chắn. Ví dụ:
Về cái chết của Lý Phục Man và Phạm Tu, chính sử không chép, trong lúc các thần tích và tư liệu dân gian phản ánh khác nhau. Thần tích làng Thanh Liệt chép Phạm Tu hy sinh trong trận đánh quân lương ở cửa sông Tô Lịch ngày 20 tháng 7 năm Ất Sửu (545). Truyền thuyết làng Giá và nhiều nơi thờ Lý Phục Man cũng phản ánh cái chết của Lý Phục Man như vậy. Nhưng theo Việt điện u linh thì Lý Phục Man lại hy sinh vào năm Đinh Mão (547) khi Lý Nam Đế rút vào động Khuất Lão.
Đặc biệt, Thiên Nam ngữ lục là một bộ sử ca dân gian thế kỷ XVII lại ghi chép rất rõ Lý Phục Man và Phạm Tu là hai người đều chết vào năm 548. Theo tài liệu này thì Lý Phục Man cùng Tinh Thiều, Phạm Tu là những tướng giỏi của Lý Nam Đế:
“Mưu trong thì cậy Tinh Thiều,
Lầu thông kế nhiệm hơn mười dặm xa.
Địch thời Phục Man, Phạm Tu:
Trận phá nháy mắt thành đồ phản tay”
Cũng theo Thiên Nam ngữ lục thì Phạm Tu đã phá tan quân giặc rồi sau đó, Lý Bí cử Lý Phục Man vào trấn ải biên thùy phương nam, chứ không phải trấn giữ vùng Đường Lâm, Đỗ Động. Khi quân Trần Bá Tiên kéo sang xâm lược lại nước Vạn Xuân thì Lý Nam Đế cùng Tinh Thiều, Phạm Tu chỉ huy nghĩa quân đương đầu với quân địch và sau trận hồ Điển Triệt, Tinh Thiều hy sinh, Lý Nam Đế và Phạm Tu rút lên động Khuất Lão rồi tự vẫn. Lý Phục Man lúc đó đang trấn thủ phương nam và cũng đã hy sinh trong một trận đánh với quân giặc.
Gần đây (10), Nguyễn Bá Hân trong Ban sử xã Yên Sở đã tìm thấy ở Dương Liễu hai quyển sách Hán Nôm sưu tập những sự tích, sắc phong và truyền thuyết về Lý Phục Man, cuối sách chép Tiền Lý Nam Đế quốc âm gồm 206 câu lục bát. Đối chiếu với Thiêm Nam ngữ lục thì theo tôi, đây có thể là một dị bản của Thiên Nam ngữ lục do một tác giả nào đó đầu thời Nguyễn chép lại và có sửa chữa ít nhiều. Chính tác giả quyển sách cũng nêu lên ghi vấn về mối quan hệ giữa Lý Phục Man và Phạm Tu.
Để tiến tới giải quyết một cách khoa học vấn đề đặt ra, chúng ta không hy vọng tìm thêm tư liệu trong chính sử, nhưng chắc chắn có thể phát hiện và thu thập được nhiều nguồn tư liệu mới ở những làng thờ Lý Bí và các tướng của ông, nhất là những làng thờ Lý Phục Man và Phạm Tu.
Nguyễn Văn Huyên trong công trình nghiên cứu về Lý Phục Man, đã cho biết, theo Nam Việt thần kỳ hội lục, Lý Bí được thờ trong 20 làng, Triệu Quang Phục được thờ trong 25 làng (và 4 làng ở Ninh Bình không chép trong Nam Việt thần kỳ hội lục). Lý Phật Tử được thờ trong 16 làng. Nhã Lang được thờ trong 9 làng và Trương Hống, Trương Hát được thờ trong nhiều làng dọc theo sông Cầu. Riêng Lý Phục Man, tác giả đã thống kê được 20 làng thờ, trong đó có 19 làng được chép trong Nam Việt thần kỳ hội lục. Theo truyền thuyết vùng Sấu Giá thì Lý Phục Man được thờ trong 75 làng thuộc Bắc Bộ và bắc Trung Bộ. Mấy tháng gần đây, tôi được biết, Nguyễn Bá Hân đã đi khảo sát 20 làng trong 6 huyện và đã tìm ra một số làng thờ Lý Phục Man chưa có trong danh sách của Nguyễn Văn Huyên và đã phát hiện ra một số tư liệu mới. Những tư liệu này gồm bi ký, thần tích, truyền thuyết và một ít tài liệu văn tự, tuy rất hỗn tạp nhưng nếu biết phân tích, gạn lọc thì có thể bổ sung sự nghiệp của Lý Phục Man và giải quyết mối quan hệ với Phạm Tu. Tôi hy vọng rằng, những cuộc điều tra khảo sát như thế sẽ sưu tầm thêm tư liệu, làm sáng tỏ hơn nữa những vấn đề đang tồn tại xung quanh nhân vật anh hùng Phạm Tu-Lý Phục Man.
Dù có những khía cạnh cần tiếp tục xác minh nhưng điều cần khẳng định là trong cuộc khởi nghĩa Lý Bí thành lập nước Vạn Xuân cũng như trong cuộc chiến đấu bảo vệ chính quyền độc lập non trẻ, nhân dân Kẻ Giá cùng người anh hùng Lý Phục Man của mình đã có những cống hiến quang vinh đáng tự hào.
...

(1) Nguyễn Văn Huyên, Contribution à I'estude d'un gesnie tétulaire annamite Ly Phuc Man, BEFEO, T. XXXVIII, 1938, tr. 25.
(2) Danh nhân quê hương, T. III, Hà Sơn Bình, 1976, tr. 10-14
(3) Danh nhân Hà Nội, T. I, Hà Nội, 1973, tr. 24-27; Hà Nội nghìn xưa, Hà Nội, 1975, tr. 110-114.
(4) Nguyễn Khắc Đạm, Lý Phục Man có phải là Phạm Tu hay không? TC Nghiên cứu lịch sử số 6 (5-6-1983), tr. 70-72.
(5) Khi chép về Kỷ nhà Lý, Toàn thư mới chép việc Lý Thái Tổ đến bến Cổ Sở và sai lập đền, đắp tượng Lý Phục Man cùng sự tích đánh giặc Mông-Nguyên của dân làng.
(6) Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ, Q4, 15b.
(7) Việt điện u linh, Nxb Văn học, Hà Nội, 1972, tr. 75.
(8) Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ, Q4, 15b.
(9) Đại Nam nhất thống chí,T. 4, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội, 1972, tr. 226.
(10) Tác giả viết xong bài này vào ngày 25-12-1983 (Chú thích của Ban Biên Tập)

Câu hỏi 116 và đáp án về 1000 năm Thăng Long

Câu 116: Làng Thanh Liệt huyện Thanh Trì là quê hương của một người anh hùng thế kỷ thứ VI. Ông là ai?
Trả lời: Người anh hùng đó là Phạm Tu, quê ở thôn Văn, xã Quang Liệt (nay là Thanh Liệt), huyện Thanh Trì.
Phạm Tu là một người có sức khỏe phi thường, giỏi võ, giỏi vật (nhân dân thường gọi là Đô Tu). Ông sớm có lòng yêu nước, căm ghét bọn đô hộ. Năm 542, cuộc khởi nghĩa Lý Bí bùng nổ, Phạm Tu là một số những người đầu tiên tham gia, đồng thời là một tướng tài, có những đóng góp xuất sắc vào cuộc khởi nghĩa. Ông đã kề vai sát cánh cùng các tướng tài khác như Tinh Thiều và Triệu Túc để giúp Lý Bí xây dựng chính quyền tự chủ non trẻ, lập nhà nước Vạn Xuân. Năm 543, ông cầm quân đánh dẹp quân xâm lấn bảo vệ bờ cõi phía nam. Năm 545, nhà Lương kéo đại quân sang xâm lược nhằm tái áp đặt ách đo hộ trên đất nước ta. Trong trận chiến đấu ác liệt diễn ra ở miền cửa sông Tô Lịch vào ngày 20 tháng 7 năm Ất Sửu, lão tướng Phạm Tu đã anh dũng hi sinh. Tưởng nhớ công ơn của người anh dũng, dân đã lập đền thờ. Đền ở thôn Trung, xã Quang Liệt. Hàng năm vào ngày 20 tháng 7, là ngày ông hi sinh, dân làng Quang Liệt (nay là Thanh Liệt) tổ chức cúng tế rất trang trọng.
Họ tên:
Email:
Tiêu đề:
Lời nhắn:
Xác nhận:
free counters