Thứ Bảy, 9 tháng 4, 2011

MỘT SỐ SỰ KIỆN VÀ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU GẦN ĐÂY VỀ DANH TƯỚNG PHẠM TU

(Theo cuốn “Họ Phạm trong cộng đồng dân Việt” ấn hành nội tộc năm 2007 của Ban liên lạc họ Phạm Việt Nam)
Ngày 20 tháng 7 năm Đinh Sửu (1997), nhân ngày lễ hội tưởng niệm hàng năm tại địa phương, Ban Liên lạc họ Phạm toàn quốc đã trân trọng đề nghị suy tôn Phạm Tu làm Thượng Thuỷ tổ họ Phạm Việt Nam. Đề xuất này đã được mọi người tán thành.
Ngày 08-9-1998, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đã tổ chức HỘI THẢO TƯỞNG NIỆM DANH NHÂN PHẠM TU tại Hội trường Bảo tàng Cách mạng ở Hà Nội. Trong Hội thảo có năm báo cáo khoa học của:
-Học giả Vũ Tuân Sán, Bài viết đăng báo Hà Nội mới ngày 28/7/1969
-Phó Giáo sư Sử học Lê Văn Lan,
-Nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc (bài đã đăng báo Nhân dân 21-8-1997),
-Nhà sử học Trần Lê Sáng (bài đã đăng tạp chí Xưa & Nay, số tháng 8-1997),
-Trưởng Ban Lịch sử xã Thanh Liệt, Hà Nội: Nguyễn Đăng Thưởng
Cùng một bản thông báo của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Hồng (thành viên Ban Tư liệu họ Phạm Việt Nam) nói về các danh nhân và các chi họ Phạm, hậu duệ của Phạm Tu, được biết cho đến lúc đó.
Hội thảo còn có phát biểu của ông Phạm Minh Đức (đã từng là Phó Giám đốc Sở Văn hoá Thông tin tỉnh Thái Bình) và Cử nhân Phạm Quốc Chử, giáo viên trường THPT Tây Tiến, Tiền Hải, Thái Bình. Cuộc Hội thảo diễn ra rất sôi nổi, do Tổng Thư kí Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam-Dương Trung Quốc, khai mạc, dắt dẫn chương trình và phát biểu bế mạc. Chính ông đã đề xuất ý kiến: Thủ đô Hà Nội nên có một đường phố mang tên Phạm Tu.
- Ngay sau Hội thảo, PGS. TS. Phạm Hồng đã tập hợp các thông tin trong Hội thảo, biên tập thành tài liệu “DANH TƯỚNG PHẠM TU-... Thượng thuỷ Tổ họ Phạm” (20 trang 14, 5 x 20, 4 cm xuất bản lần đầu năm 1998) phát hành trong nội tộc vào những dịp giỗ Người, 20-7 âm lịch hàng năm.
- 5 báo cáo khoa học trong Hội thảo đã được Phó Giám đốc Trung tâm UNESCO Thông tin Tư liệu Văn hoá và Lịch sử Phạm Đình Nhân, tập hợp cùng những tư liệu về họ Phạm trong lịch sử, do bản thân sưu tầm, để biên soạn thành cuốn sách: “DANH TƯỚNG PHẠM TU và HỌ PHẠM TRONG LỊCH SỬ” do Nxb. Văn hóa Thông tin xuất bản, Hà Nội-1999 (392 trang 14, 5 x 20, 4 cm-phần Họ Phạm trong lịch sử chiếm tới 336 trang, còn phần Phạm Tu có 56 trang).
- Năm 2003, Thượng tá Kĩ sư Phạm Hồng Vũ, chuyên gia Hán-Nôm, Phó Tổng Thư kí của Ban Liên lạc họ Phạm Việt Nam đã dày công sưu tầm thêm các tư liệu quốc ngữ và Hán Nôm, dịch và soạn thành cuốn sách chuyên đề: “DANH TƯỚNG PHẠM TU (476-545) Khai quốc công thần nhà Tiền Lý, Thượng Thuỷ tổ họ Phạm Việt Nam”
Sách dày 154 trang khổ 13 x 19 cm do Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nội xuất bản, Hà Nội-2003.

DANH TƯỚNG PHẠM TU (476-545), VỊ KHAI QUỐC CÔNG THẦN TRIỀU TIỀN LÝ

PHẠM ĐÌNH NHÂN
Bộ chính sử lớn của nước ta, cuốn Đại Việt sử ký toàn thư đã để lại những dòng ghi về vị tướng tài họ Phạm như sau:
“Mùa hạ, tháng 4 năm Quý Hợi (543) vua Lâm Ấp cướp quận Nhật Nam, vua sai tướng Phạm Tu đánh tan giặc ở quận Cửu Đức” và:
“Mùa Xuân, tháng Giêng năm Giáp Tý (544), vua lên ngôi, xưng là Nam Việt Đế, lấy niên hiệu là Thiên Đức, đặt trăm quan, dựng quốc hiệu là Vạn Xuân là ý mong xã tắc truyền đến muôn đời vậy. Dựng điện Vạn Thọ làm nơi triều hội. Lấy Triệu Túc làm Thái Phó, lấy Tinh Thiều, Phạm Tu làm tướng văn, tướng võ”.
Cuốn Việt Nam sử lược cũng viết:
“Qua năm Quý Hợi (543) quân Lâm Ấp lại sang quấy phá quận Nhật Nam, Lý Bôn sai tướng là Phạm Tu vào đánh ở Cửu Đức (Hà Tĩnh), người Lâm Ấp thua chạy về nước.”
Đó là nói về những cứ liệu trong quốc sử, nhưng còn nguồn thư tịch khác ngoài quốc sử là các đạo sắc phong của các triều đại từ triều Lê đến triều Nguyễn phong cho Long Biên hầu Đô Hồ Đại vương Phạm Tu, thì ở Thanh Liệt cho đến nay còn giữ được 18 đạo sắc phong quan trọng.
Những tư liệu quốc sử, sắc phong là những thư tịch chính thống đã giúp rất nhiều trong việc tìm hiểu danh tướng Phạm Tu. Ngoài ra còn khá nhiều nguồn tài liệu ghi chép mà chủ yếu là tại đền thờ nơi quê hương danh nhân ở xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Nơi đây có rất nhiều tư liệu như thần tích, bài vị, câu đối v.. v.. nói về Người.
Theo thần tích, Phạm Tu người làng Thanh Liệt. Nơi sinh ra Phạm Tu, xưa kia là một xóm bãi vải tiến vua nằm bên sông Tô Lịch thuộc thôn Văn Trì, làng Quang Liệt, huyện Thanh Đàm trấn Sơn Nam, nay là xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Phạm Tu sinh ngày 10 tháng 3 năm Bính Thìn (năm 476), thân phụ là Phạm Thiều, thân mẫu là Lý Thị Trạch. Khi lớn lên, Phạm Tu phương phi, tuấn tú, học giỏi, tư chất thông minh, hay đọc sách nhất là binh thư yếu lược. Người vóc dáng rất khoẻ và trở thành đô vật nổi tiếng trong vùng, thường được gọi là Phạm Đô Tu.
Cuối năm Tân Dậu (tháng Giêng năm 542), Giám quân châu Cửu Đức là Lý Bôn (hay còn gọi là Lý Bí) dấy binh khởi nghĩa, chống lại quân đô hộ nhà Lương và viên thứ sử cai trị nước ta bấy giờ là Tiêu Tư nổi tiếng tàn ác. Cuộc khởi nghĩa của Lý Bôn được nhân dân và anh hào khắp nơi ủng hộ nô nức kéo về giúp sức. Ở Đan Phượng (Hà Tây) có hào trưởng Triệu Túc, ở Sấu Giá, Hoài Đức (Hà Tây) có Lý Phục Man. Lại có cả Tinh Thiều nguyên là quan cai trị của Nhà Lương, bỏ quan chức chạy về với quân khởi nghĩa. Trong số những vị anh hùng tham gia cùng Lý Bôn khởi nghĩa phải kể đến võ tướng Phạm Tu.
Năm ấy Phạm Tu đã 67 tuổi, song tuổi tác không ngăn được lòng yêu nước đánh đuổi ngoại xâm. Phạm Tu đã tập hợp binh mã, tổ chức quân khởi nghĩa và trở thành một võ tướng chủ chốt của quân khởi nghĩa. Ông cùng với Triệu Túc và Tinh Thiều, trở thành ba vị lãnh đạo chính trong bộ tham mưu của cuộc kháng chiến chống quân Lương do Lý Bôn lãnh đạo. Quân khởi nghĩa đánh đâu thắng đấy. Thứ sử Tiêu Tư bỏ chạy về nước. Nghĩa quân chiếm đóng thành Long Biên và chuẩn bị đối phó với cuộc xâm lăng mới của địch. Năm sau, năm 543, Nhà Lương lại tập trung quân chuẩn bị đánh chiếm nước ta. Lý Bôn chủ động đem quân tấn công, tiêu diệt được gần hết đoàn quân xâm lược này. Cũng trong thời gian đó, vua Lâm Ấp (Chiêm Thành) lợi dụng tình hình quân khởi nghĩa đang đương đầu với phương Bắc, đã đem quân đánh phá vùng Cửu Đức (Hà Tĩnh ngày nay) vào tháng 5 năm 543. Lý Bí cử danh tướng Phạm Tu đưa quân đi chống lại và cuối cùng đã tiêu diệt gọn quân Lâm Ấp, ổn định biên giới phía Nam. Những chiến thắng trên đã đưa Lý Bí chính thức lên ngôi vua vào đầu năm 544, lấy danh hiệu là Nam Việt Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân, dựng điện Vạn Thọ làm nơi triều hội, lấy Triệu Túc làm Thái phó, Tinh Thiều đứng đầu Ban Văn, Phạm Tu đứng đầu Ban Võ của triều đình trở thành vị khai quốc công thần Nhà Tiền Lý.
Tháng 6 năm Ất Sửu (năm 545), Nhà Lương lại tổ chức xâm lược nước ta một lần nữa. Quân Lương cử hai tướng thiện chiến là Dương Phiêu và Trần Bá Tiên chỉ huy đại quân theo đường biển tiến sang nước ta. Lý Bí chống cự ở Chu Diên (vùng duyên hải Thái Bình, Nam Định) không nổi, lui về củng cố thành trì ở cửa sông Tô Lịch (nay là đoạn phố Chợ Gạo, Hà Nội). Võ tướng Phạm Tu giữ cửa sông Tô Lịch một thời gian, nhưng vì tuổi cao sức yếu, quân giặc lại đông, nên ông đã hy sinh anh dũng vào ngày 20 tháng 7 năm ấy. Lý Nam Đế rút quân vào Gia Ninh đóng đồn ở hồ Điển Triệt, luyện tập binh mã để sau khôi phục lại.
Xét công trạng của Phạm Tu, Lý Nam Đế ban tặng phong Phạm Tu là Long Biên hầu, đặt thụy là Đô Hồ, phong làm Bản cảnh thành hoàng, sắc cho bản hương là Thang Mộc ấp, sưu sai tạp dịch đều được miễn trừ, ban 100 nén bạc lập miếu phụng sự lưu truyền mãi mãi, đó là làng Thanh Liệt, nơi sinh ra danh tướng Phạm Tu.
Hiện nay ở xã Thanh Liệt có hai nơi thờ danh tướng Phạm Tu, đó là Miếu Vực và Đình Ngoài. Miếu Vực nằm ở xóm Vực, miếu thờ Long Biên hầu Phạm Đô Hồ Đại vương cùng Thánh phụ Phạm Thiều và thánh mẫu Lý Thị Trạch.
Đình Ngoài ở ngoài đồng thuộc thôn Trung, Đình có hồ lớn gọi là hồ Tròn, nơi thờ chính của Đô Hồ Đại vương Phạm Tu là thành hoàng làng Thanh Liệt, nơi mà nhiều năm gần đây dân làng Thanh Liệt và bà con họ Phạm trên khắp cả nước thường về dự tế lễ nhân ngày giỗ của Người vào ngày 20 tháng 7 âm lịch hàng năm.
Tháng 10 năm 1996, cuộc họp mặt toàn quốc lần thứ Nhất của các dòng họ Phạm đã thành lập Ban Liên lạc họ Phạm Việt Nam tại chùa Quán Sứ. Ngay từ khi thành lập Ban Liên lạc đã suy tôn danh tướng Phạm Tu là Thượng thuỷ tổ của các dòng họ Phạm Việt Nam vì Người là vị họ Phạm xuất hiện đầu tiên trong chính sử và có nhiều công lao cho đất nước. Và từ khi đó đến nay hàng năm bà con họ Phạm ở nhiều địa phương trong cả nước thường về dự giỗ Tổ Phạm Tu tại đền thờ của Người ở làng Thanh Liệt.
Năm nay, nhân ngày giỗ lần thứ 1461 của Thượng thuỷ tổ Phạm Tu và nhân kỷ niệm 10 năm thành lập Ban Liên lạc họ Phạm Việt Nam, bà con chúng ta lại một lần nữa về quê hương của Thuỷ tổ tại Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội để dự lễ tế Tổ, dâng nén hương thơm nhớ về tổ tiên, nhớ về vị tiền bối đã làm rạng danh dòng họ Phạm và cũng là về dự Cuộc họp mặt dòng họ Phạm lần thứ 10 ở ngay tại quê hương Người.
Nguồn tin: www.hophamvietnam.org

LÝ PHỤC MAN XUẤT HIỆN LẦN ĐẦU TIÊN TRONG MỘNG CỦA LÝ THÁI TỔ

Theo Đại Việt sử ký toàn thư trang 84 (bản ebook)
Bính Thìn, [Thuận Thiên] năm thứ 7 [1016], (Tống Đại Trung Tường Phù năm thứ 9). Mùa xuân, tháng 3, lại lập 3 hoàng hậu: Tá Quốc hoàng hậu, Lập Nguyên hoàng hậu, Lập Giáo hoàng hậu, Độ cho hơn nghìn người ở kinh sư làm tăng đạo. Dựng hai chùa Thiên Quang, Thiên Đức và tô bốn pho tượng Thiên Đế.
Động đất. Làm lễ tế vong các danh sơn. Vua nhân đi xem núi sông, đến bến đò Cổ Sở , thấy khí tốt của núi sông, tâm thần cảm động, bèn làm lễ rưới rượu xuống đất, khấn rằng: “Trẫm xem địa phương này, núi lạ sông đẹp, nếu có nhân kiệt địa linh thì hưởng lễ”.
Đêm ấy, vua chiêm bao thấy có dị nhân đến cúi đầu lạy hai lạy, nói: “Thần là người làng này, họ Lý tên Phục Man, làm tướng giúp Nam Đế, có tiếng là người trung liệt, được giao trông coi hai dải sông núi Đỗ Động và Đường Lâm, bọn Di Lão không dám xâm phạm biên giới, một phương yên bình. Đến khi chết, thượng đế khen là trung trực, sắc cho giữ chức như cũ. Cho nên phàm giặc Man Di đến cướp đều chống giữ được cả. Nay may được bệ hạ thương đến, biết cho thần giữ chức này đã lâu rồi”. Rồi đó thung dung nói: “Thiên hạ khi mờ tối, trung thần giấu tính danh, giữa trời nhật nguyệt sáng, ai chẳng thấy dáng hình” . Vua thức dậy nói việc ấy với Ngự sử đại phu Lương Nhậm Văn rằng: “Đó là ý thần muốn tạc tượng”. Vua sai bói xin âm dương, quả nhiên đúng như thế. Bèn sai người trong châu [8a] lập đền đắp tượng đúng như hình dạng người trong chiêm bao, tuế thời cúng tế. Khoảng niên hiệu Nguyên Phong [1251-1258] đời Trần, người Thát Đát vào cướp, đi đến địa phương này, ngựa khuỵu chân không đi được, người trong thôn dẫn dân chúng ra chống đánh, chém được đầu giặc, giặc chạy tan. Khoảng năm Trùng Hưng [1285-1293], [Thát Đát] lại vào cướp, đến đâu cũng đốt phá, mà ấp ấy vẫn như được che chở, không bị xâm phạm mảy may, quả đúng như lời thần nói.

CHỨNG AN MINH ỨNG HỰU QUỐC CÔNG

(Theo “Việt điện u linh tập” của Lý Tế Xuyên, dịch giả Lê Hữu Mục toàn biên và viết dẫn nhập tại Huế năm 1959, Khai Trí, Sài Gòn, 1961. )

Xét Sử ký Đỗ Thiên chép rằng: Vương họ Lý tên Phục Man. Vua Lý Thái Tổ đi tuần phương đến sông Sở Bộ Đầu, thấy giang sơn tú khí, phong cảnh thắng du, nhà vua tâm thần cảm hứng, mới rót ly rượu đổ xuống tràng giang, vái rằng:
-Trẫm xem chỗ này non xanh nước biếc khác hẳn mọi nơi, nếu có nhân kiệt u linh, xin hưởng.
Đêm ấy vua mộng thấy một dị nhân cao đại, mặt hổ râu rồng, y phục trang nghiêm, cân hài tề chỉnh, đến trước nhà vua cúi đầu lạy hai lạy mà tâu rằng:
-Thần vốn là người ở làng này, họ Lý tên Phục Man, giúp Lý Nam Đế làm Tướng quân, nhờ sự trung liệt được vua biết tên, mới sai trấn thủ hai giải sơn hà Đỗ Động và Đường Lâm, mọi Lào đều sợ không dám phạm biên, một phương yên ổn. Đến lúc chết, Thượng đế thương kẻ trung nên cho giữ chức như cũ. Nay thần xin kể một vài chuyện để Bệ hạ nghe thử. Thời vua Tương Vương nhà Đường, thần thường đem quỷ binh theo Khâu Hòa phá được nghịch tặc là Nịnh Tràng Chân ở cửa Giáp Sơn, thời vua Túc Tông lại phá được giặc Đại Thực Ba Tư ở cửa Thần Thạch, thời vua Đại Tông lại phá giặc Côn Lôn, Đồ Bà ở Chu Diên. Cao Vương phá nước Nam Chiếu; Ngô Tiên Chúa phá nước Nam Hán, vua Lê Đại Hành phá Tống binh, mỗi lần xuất binh chinh phạt, thần ở trên không đem quỷ binh ám trở, thảy đều có công. Thần lại thường thống suất quân binh quỷ thần, vâng theo mệnh Thiên đế phá giặc Chiêm Thành ở trấn Giáp Sơn. Đến khi thần mệnh một, u linh không tán, thôn dân kính mến, lại sợ không ai phòng thủ, mọi Lào đến cướp bóc, nhân đó lập đền thờ phụng; bởi vậy, thần thường phảng phất ở khoảng trời mây, phàm gặp khi có dụng binh, thần ở trên không ám hộ, nghịch lỗ nhập khấu thì đều hãn ngự được. Bấy giờ gặp Bệ hạ loan giá quang lâm, thần xin đến bái yết.
Nói đoạn, ngâm bốn câu thơ rằng:
Thiên hạ toàn mông muội
Hãy tạm ẩn thanh danh,
Giữa trời nêu nhật, nguyệt,
Quang diệu ấy chân hình.
Ngâm xong liền biến mất; vua chưa kịp đối đáp, hốt nhiên tỉnh dậy, nói lại với tả hữu; quan Ngự sử Đại Phu Lương Văn Nhậm nói:
-Đó là lời thần muốn hiển linh để lập hình tượng.
Vua sai người xin keo, quả nhiên lập ứng.
Vua sắc cho người trong châu lập đền thờ, tạc tượng thần y như đã trông thấy trong mộng, miếu mạo sum liệt, làm Phúc thần một phương.
Trong thời Nguyên Phong , Thát Đát nhập khấu, đến biên cảnh thì ngựa què không tiến được; thôn dân biết có sức thần ám trợ mới đem dân chúng ra cự chiến, chém được đầu giặc rất nhiều; giặc thua chạy tán loạn, không dám trở lại dòm dỏ bờ cõi nữa. Khấu tặc bình xong, sắc phong Chứng An Nam Quốc Công, chiếu cho thôn ấy đổi tên là Hộ Xá Chứng An.
Niên hiệu Trùng Hưng năm đầu, giặc Bắc lại vào ăn cướp, mấy chỗ khác đều bị đốt cháy cả, duy có ấp này như có phòng hộ, một mảy lông mùa thu cũng không bị phạm tới.
Giặc bình xong, sắc phong Chứng An Vương, năm thứ tư gia phong hai chữ Minh Ứng, năm Hưng Long thứ hai mươi mốt, gia phong hai chữ Tá Quốc, càng ngày càng thêm linh ứng vậy.
Tiếm bình
Cái khí tinh hoa của sông núi, kết lại hóa ra vàng ngọc châu báu, như ngọc bích ở Lam Điền, ngọc châu Dạ Quang, vốn là có tiếng quý giá xưa nay. Còn đến như con người cũng thế, thiện nhân quân tử là tinh hoa của cái khí ấy. Sông Sở Bộ Đầu, sơn kỳ thuỷ tú, người tài đất linh, Lý Tướng quân thực là vun đức ở đây, kịp đến lúc thờ vua Nam Đế làm Tướng quân, oai nghiêm làm rào ngăn cho hai xứ Đỗ Động và Đường Lâm. Thân cỡi đuôi sao Cơ, quanh vùng biết tiếng, cái khí anh sản thường tụ lại, cái công võ liệt thêm kỳ. Phá Trường Chân ở Giáp Sơn, giết Đồ Bà ở Châu Diên, bình nước Nam Chiếu, định nước Nam Hán, đuổi binh nhà Tống, Thần chắc không nói dối ta vậy.
Trong bài thơ, lời ý du dương, quý tính tôn danh, không muốn nói với thôn dân khách tục, dựng đền đúc tượng, dung mạo tôn nghiêm, kẻ chợ dân mường đều kính ngưỡng. Xem như rợ Thát Đát rất mạnh, mang cung đến đâu, tỉ dụ đến nhà Liêu Hạ, nhà Kim, nhà Tống các nước lớn ấy cũng đều trông gió mà xếp gươm giáo, huống chi chúng kéo sang Nam như gió cuốn mây ùn, sấm gào chớp nhoáng, thế mà ông lấy sức thần lui được binh giặc, khiến cho nhân dân được ăn yên ở yên như xưa. Ở chỗ bình nguyên hễ có công đức với dân thì được phụng sự, thế thì công đức của ông biết chừng nào vậy.
Miếu nay ở làng Cổ Sở huyện An Phụng, chế độ rất chỉnh, lễ bộ rực rỡ, mỗi năm lễ nghinh yết có xướng hát, làm một cảnh đại đô hội ở sông Hát Giang, triều trước đời nào dân cũng được tha thuế, đối với đền Phù Đổng, đền Bạch Đằng cùng ngang hàng nhau, rất là thịnh vượng.
Tục truyền rằng ông tiến sĩ làng Ninh Xá tên là Nguyễn Mại trấn tỉnh Sơn Tây thường phụng mạng đem lễ đến cúng, ngủ lại trong đền làng Cổ Sở, mộng thấy một người đàn bà đeo ngọc, mão vàng, áo gấm, giầy thêu, xiêm lụa, có cái dáng điệu hoa ghen nguyệt thẹn, cái nhan sắc mặt ngọc da hồng, tay cầm một nhánh hoa mai phe phẩy đến trước chỗ ngồi, gió thanh mát mặt, hương khí ngát người; người đàn bà ấy thưa rằng:
-Từ khi lang quân thiếp đi vắng, trướng hồ vắng vẻ một mình không người săn sóc, nay Tôn giả đến đây, đền thờ không lấy gì làm quang khiết. Sứ quân có lòng tốt, xin nhờ trùng tu lại cho.
Nguyễn Mại hỏi lại rằng:
-Vậy chớ lang quân tên họ là gì?
Nàng nói:
-Lang quân thiếp tên là Lý Tướng quân, kim sinh tức là ông tiến sĩ làng Thanh Mai tên là Lê Anh Tuấn, hiện nay đang đi sứ Tàu, xin trình Sứ quan rõ.
Hốt nhiên gió động lan can, Nguyễn Mại tỉnh dậy, thì ra là một giấc mộng kê vàng, mới đem câu chuyện trong mộng thuật lại cho người làng nghe, và bảo sửa sang đền thờ lại cho tử tế. Khi đi sứ về, Lê Anh Tuấn thường qua lại nhà Nguyễn Mại đi lại trò chuyện. Nguyễn Mại gọi người nhà đến chỉ Lê Anh Tuấn mà bảo rằng:
-Ông này là Chứng An Vương đền Cổ Sở đó.
Lê Công giỏi văn học, làm quan đến Thượng thư, quyền thế lừng lẫy. Tuy là chuyện mộng mị chưa dám tin chắc, nhưng qua lại thầm kín, đôi khi cũng hở mối manh. Ông Phạm Trọng Yêm với Đạo nhân Côn Lôn đời trước, ông Phú Bật với thầy chùa Xung Hư Quán cũng phảng phất giống như vậy.

Phụ lục:
Sự tích đền thờ thần xã An Sở
Xét Đại Việt Ngoại Sử chép rằng: Gia Thông Đại Vương vốn là người làng Cổ Sở (sau đổi ra An Sở). Lúc bấy giờ thiên hạ loạn ly, kẻ hào kiệt dấu họ dấu tên để tránh nạn.
Thưở nhỏ, Đại Vương phong tư hơn người, tài nghệ xuất chúng, nhất là cỡi ngựa bắn cung lại là sở trường, rất có uy đức, sức mạnh voi cũng chịu thua; đến khi thờ Lý Nam Đế (đồng thời với vua Lương Võ bên Tàu) vua trông thấy người khí vũ hiên ngang, thật là một bậc Đại trượng phu, có thể đương nổi một phương, mới bảo vương theo quân ngũ; Vương hằng lập được nhiều kỳ công.
Sau vua cho một cõi Đỗ Động là đất biên viễn hiểm trở, nếu không phải là tay Vương thì chẳng ai trị nổi, rồi phong cho Vương chức Đại tướng quân, bảo qua trấn thủ ở đó; mỗi khi có hiệu lệnh của Vương ra thời các kẻ hùng cứ trốn xa, giặc cướp đều đến đầu hàng, nhân dân được an cư lạc nghiệp, trong cõi yên ổn, già trẻ đều mến đội ân đức của Vương.
Kịp đến lúc nước Lâm Ấp (tức là Chiêm Thành) vào ăn cướp châu Cửu Đức, biên thư cáo cấp, triều đình bàn kế xuất chinh, các quan đều nói rằng:
-Không có quan Tướng quân Đỗ Động thì không thể đánh bại giặc ấy được.
Vua mới tuyên chiến triệu Vương thống suất các tướng lãnh đi đánh, đại phá quân Lâm Ấp ở Cửu Đức. Tin thắng trận về đến kinh đô, vua thán thưởng giây lâu rồi bảo quan thị thần rằng:
-Gặp đến rễ quanh đốt cứng mới biết được đồ dùng sắc, nay quan Đỗ Động tướng quân chỉ bắn vài mũi tên mà cả phá được giặc mạnh, thực là kẻ hào kiệt ở Sơn Tây, những bậc can thành đời xưa cũng chẳng lấy gì làm hơn được, nên phải có trọng thưởng mới xứng công lao.
Vua mới lục những công phục biên, tứ tính là họ Lý, gả một vị Công chúa tức là Lý Nương và thăng lên chức Thái Uý. Từ đấy ân sủng càng ngày càng thêm, lại khiến làm chức Tham hộ phủ nghi, giám thị cả trăm quan.
Quan Lý Thái uý thiên tư trung hậu, tính vốn thanh liêm, mỗi khi có kiến nghị điều gì thì chuyên lo ngay thẳng, ở trong triều nếu có ai lỗi, trước mặt thì bắt bẻ, giữa triều thì can gián chẳng dung tha một ai, cả đến những kẻ quyền quý xin vô việc riêng. Tiếng tăm lừng lẫy, trong ngoài đều gọi là Phục Man Tướng công, kính mến người có đức.
Lúc bấy giờ vua Nam Đế chủ tâm việc biên phòng, khiến quan Thiếu uý ra trấn Đường Lâm, binh quyền ở tay, uy lệnh xa khắp, làm lặng bụi trần sa mạc, làm tiêu tan lòng sợ hãi chiến tranh. Nào ngờ trời chán nghiệp nhà Lý, gió đưa binh nhà Lương đến, năm Ất Sửu thứ hai, Trần Bá Tiên đem binh đi đánh ở quận Châu Diên, sông Tô Lịch, lần lượt dẹp yên.
Năm Đinh Mão thứ tư (năm đầu vua Lương Văn Trị), binh nhà Lương thừa thắng, đi đến đâu là chỗ đó không có người. Vua tôi triều Lý đâu thất sắc, tan rã như ngói vỡ đất lở, chẳng biết tính làm sao, toan muốn triệu Thái uý.
Thái uý ở động Khuất Liêu, nghe được tin ấy, ngậm ngùi than thở, lòng trung kích thích, mới sai người cẩn thủ các nơi yếu hại của dinh đồn. Hốt nhiên, đang đêm lửa cháy đỏ rực cả bốn mặt, đầy đường binh Lương đã bức gần đến trước sân, mới hay lòng người nham hiểm, mệnh trời khôn lường. Vương bèn đem gia tướng đánh thoát vòng vây để tính bề khôi phục. Nhưng đất cùng đường xa, tới lui không ngõ, Thái uý đành phải chỉ trời vạch đất, thản nhiên uống thuốc tự tận.
Người nhà phụng linh cữu đưa về bến Hồ Mã (tức nay là chùa Ngọc Tân, tên sông của bản xã) chôn cất và đắp mộ ở ngoài bãi bản xã.
________
Ghi chú: Phần tiếm bình và phụ lục là bổ sung sau thời Lý Tế Xuyên.

LÝ PHỤC MAN – NGƯỜI CON QUANG VINH CỦA LÀNG GIÁ

Nguyễn Khắc Đạm
Đi đường Hà Nội lên Sơn Tây đến Trạm Trôi, một trạm chạy thư cũ của thời phong kiến, rồi rẽ sang trái theo con đường rải đá độ bốn cây số, người ta thấy dưới chân đê sông Đáy một làng lớn trồng rất nhiều dừa. Thật là một sự đặc biệt của cảnh vật miền Bắc vì rất ít nơi lại trồng dừa một cách phổ biến đến như vậy. Trong vườn, bên đường đi ngang dọc trong làng, đâu đâu người ta cũng trông thấy những cây dừa cao vút, trĩu quả. Đó là làng có tên tục là Giá, tên chữ là Yên Sở và trước đó từ đời nhà Trần có tên là Cổ Sở.
Làng Giá không những chỉ nổi bật lên vì dừa trồng chi chít mà còn nổi tiếng vì một ngôi đình vào loại to nhất và đẹp nhất ở nước ta. Đình chiếm một diện tích rất lớn rộng 52 mét, dài 120 mét. Ít nơi trên đất nước ta lại có một ngôi đình quy mô lớn đến như vậy. Từ ngoài vào đình, sau khi đi qua một sân cỏ rộng giữa lát gạch, ta bắt gặp một dãy tường hoa với hai cột trụ lớn được trang trí bằng hình rồng đắp nổi và hình bốn con phượng cong đuôi tạo thành một bông hoa duyên dáng ở trên đầu trụ. Qua hai cột trụ và sân cỏ thứ hai, ta tới cửa tam quan, hai bên có hai bức tường được trang trí một cách hết sức độc đáo bằng một diềm gạch nung đỏ (22 hòn trên tường bên đông và 26 hòn trên tường bên tây) với những hình đúc người đi cày, người kéo lưới, người cưỡi voi, người học trò và những hình rồng, voi, sư tử, phượng, khỉ, hoa, lá… Toàn bộ những hình kế tiếp nhau đó cộng với câu thơ:
Đại đạo sinh tài, tài ích thịnh
Tiên sư giáng phúc, phúc thường lai
Dịch nghĩa:
Đạo lớn sinh ra của cải, của cải ngày càng thịnh
Thần thánh (bậc thầy ngày xưa) ban phúc, phúc thường đến
có vẻ như là một bộ tranh truyện mà ngày nay người ta thực khó mà đọc được hết ý nghĩa.
Qua tam quan thì tới một cái sân cỏ thứ ba, hai bên có dãy hành lang dài mỗi dãy chia 11 gian. Tiếp đó là một cái sân nền cao hẳn lên, xây toàn gạch rồi đến tổng thể đình kế tiếp nhau gồm có: đình Hạ, đình Trung, đình Thượng. Hai con rồng chầu mặt trời được gắn trên nóc đình Hạ. Một con ngựa bằng đồng đúc năm 1707 đặt trên bệ có bánh xe được đặt trong một phòng nhỏ ở phía đông đình Trung, còn 5 tấm bia đá thì được đặt ở một phòng nhỏ khác ở phía tây. Trong đình Thượng có tới 5 pho tượng: một tượng nam thần với hai tượng nữ thần nhỏ hơn ở hai bên, và hai tượng thị nữ ở phía trước. Trong đình Trung thì ngoài các đồ thờ còn có hai pho tượng võ tướng nữa.
Toàn bộ cảnh đình được tăng thêm phần uy nghi bằng cây cối um tùm bao bọc cả ba phía: trái, phải và sau. Từ đình nhìn sang bên kia sông Đáy là núi Thầy (Sài Sơn), núi Cánh Phượng… thanh tú nổi bật lên giữa cánh đồng lúa bao la.
Ngôi đình bề thế và tuyệt đẹp này là nơi thờ Lý Phục Man. Tượng nam thần ở đình Thượng chính là Lý Phục Man, còn hai vị nữ thần ngồi hai bên là hai vợ ông: Lý Nương, vợ cả, ở bên trái, và Á Nương, vợ hai, ở bên phải. Lý Phục Man chính quê ở làng Yên Sở. Hiện nay trong làng còn có nơi, theo tục truyền, là nền nhà xưa của Lý Phục Man. Năm 541, ông đã tham gia nghĩa quân của Lý Bôn nổi lên chống ách thống trị của nhà Lương, giành lại độc lập cho nước nhà. Theo văn bia do Lý Tuấn Ngạn soạn ra trong thế kỷ 18 cũng như theo truyền thuyết địa phương, người ta biết rằng, thời niên thiếu, Lý Phục Man võ nghệ hơn người, cưỡi ngựa bắn cung đều giỏi lại có tài hàng phục được cả voi. Ông tham gia nghĩa quân Lý Bôn ngay từ thời kỳ đầu của phong trào và đã lập được nhiều chiến công xuất sắc. Vì thế, trong triều đình Vạn Xuân, ông đã được phong làm Đại tướng quân, đứng đầu trăm quan và đặc nhiệm các miền Đường Lâm và Đỗ Động (tức là vùng từ huyện Phúc Thọ đến Thanh Oai ngày nay). Ông trị dân nghiêm minh lại cầm quân giỏi nên nhân dân vùng ông cai quản đều được yên ổn và người Di, người Lão, trước kia vẫn hay xâm nhập quấy nhiễu địa phương, đều phải lánh xa. Năm 543, do nhà Lương xúi giục, quân Lâm Ấp xâm nhập vào biên giới nước Vạn Xuân, đánh phá các quận Nhật Nam, Cửu Đức (tức vùng Thanh Nghệ Tĩnh ngày nay). Lý Phục Man được cử đi đánh giặc, thắng nhiều trận, bảo vệ được chắc chắn biên giới phía nam của Tổ quốc. Để thưởng công, Lý Bôn đã gả con gái cho ông, ban cho ông họ Lý là họ nhà vua và phong cho ông tước hiệu là Phục Man (hàng phục được người Man). Cái tên Lý Phục Man xuất hiện từ đấy. Có điều là cái tên này đã được người ta dùng đến một cách tuyệt đối khiến cho ngày nay chúng ta khó mà biết được họ tên thật của ông là gì.
Nghi vấn cũng bao trùm lên cái chết của ông. Có thuyết nói rằng trong một trận đánh nhau với quân Lâm Ấp, ông bị giặc bao vây nên tự sát và quân sĩ đã đem thi hài ông về chôn ở dưới ao sen trong rừng ở sau đình Yên Sở. Có thuyết nói ông bị quân Lâm Ấp đánh thua, bị thương nặng, nhưng vẫn cố chạy về đến tận quê nhà rồi mới ngã ngựa. Theo truyền thuyết, nơi ông ngã ngựa là một viên đá lớn hiện còn nằm tại giữa đồng Yên Sở, còn có dấu vết chân ngựa và đầu ông. Nhưng thuyết thứ hai này lại khiến cho người ta có thể nghĩ rằng Lý Phục Man không phải bị quân Lâm Ấp đánh thua vì ông không thể từ vùng Thanh Nghệ mang trọng thương chạy về cho đến tận quê nhà. Hợp lý hơn cả là sau khi dẹp xong quân Lâm Ấp, ông lại trở ra Bắc chống đánh quân Trần Bá Tiên và trong một trận nào đó, có thể xảy ra ở gần quê ông, ông đã bị thương nặng, sau đó mở đường máu cố chạy về tới cánh đồng quê hương rồi mới ngã ngựa chết.
Đình Yên Sở, nơi thờ Lý Phục Man, vẫn được nhân dân địa phương gọi là quán với hàm ý là ngoài ngôi quán này còn có ngôi đình nữa thờ ông như tục thờ thần ở tất cả các làng Việt Nam khác. Đúng thế, Yên Sở trước kia có cả đình lẫn quán. Ngày thường, bài vị thần vẫn được để ở quán. Đến ngày hội tế thần hàng năm, bài vị thần mới được rước từ quán sang đình và cho đến khi tế lễ xong thì lại được rước từ đình về quán. Nhưng đến một thời kỳ nào đó, Yên Sở, do dân số phát triển, đã được tách ra làm hai xã Yên Sở và Đắc Sở. Đình ở vào địa phận Đắc Sở, quán ở vào địa phận Yên Sở. Nhưng hai làng Yên Sở và Đắc Sở vẫn cùng thờ chung một vị thần nên không thay đổi gì tình trạng cũ và trong những ngày hội tế thần hàng năm cả hai làng đều cùng đứng ra tổ chức theo đúng như nghi thức cũ và có khi bỏ cả lệ rước bài vị để tổ chức tế lễ ở ngay quán Yên Sở.
Xưa kia, bến Yên Sở còn được gọi là bến Hồ Mã. Đó là một bến sông quan trọng trên sông Đáy thời phong kiến. Ở đây có phố chợ buôn bán đông vui. Đó cũng là một trạm dừng chân của các vua chúa đi tuần du xưa kia. Sách Đại Nam nhất thống chí chép rằng: Lý Thái Tổ đã có lần dừng chân tại đây và sau khi biết rõ sự tích Lý Phục Man, đã ra lệnh cho nhân dân địa phương làm đền thờ và dựng tượng Lý Phục Man theo như hình nhà vua mơ thấy trong khi nằm mộng. Đến đời Trần Thái Tông, nhà vua cũng có lần dừng chân tại Yên Sở và cũng có cho mở rộng thêm đình.
Điều đặc biệt đáng chú ý là Lý Phục Man tuy cho đến nay vẫn chưa ai biết được rõ tên họ thật là gì, tuy không được ghi tên trong các pho chính sử nhưng đã được thờ ở nhiều nơi trên đất ba tỉnh Hà Sơn Bình, Hà Nam Ninh và Hải Hưng.
Ở những nơi thờ Lý Phục Man nói chung người ta thường kiêng tên Man và nói chệch ra là Miêng hay Men. Như mắng ai là “man trá” người ta nói “đồ men trá”.
Đặc biệt là dân làng Yên Sở, quê hương của Lý Phục Man đã được nhiều lần các vua chúa trước kia miễn cho việc đi phu đắp đê làm đường và giảm cho một phần thuế để có thể tập trung tiền của và công sức vào việc thờ Lý Phục Man. Hẳn cũng vì thế nên Yên Sở đã có khả năng không những xây dựng được một ngôi quán vĩ đại mà còn xây dựng được một ngôi đình bảy gian với đặc điểm là không có xà dọc nối các gian lại với nhau, với quy mô cũng to tát vào bậc nhất trong các đình cổ ở nước ta. Nhưng chính vì được các vua chúa trước kia ban cho một số đặc quyền, đặc lợi như vậy, nên việc tổ chức tế lễ hội hè trước kia đã bị kéo dài rất lâu, nhiều khi tới một tháng (từ mồng 10 tháng 3 đến mồng 10 tháng 4 âm lịch) gây ra rất nhiều tốn kém và hao phí sức lao động của dân làng.
Trong thời kỳ tạm chiếm, giặc Pháp đã tàn phá làng Yên Sở và Đắc Sở. Ngôi đình bảy gian không xà ở Đắc Sở, một công trình kiến trúc tuyệt tác, đã bị đốt trụi, ngày nay không còn để lại được dấu vết gì. Quán Yên Sở thì phần quan trọng nhất, mỹ thuật nhất là tam quan, đình Hạ, đình Trung, đình Thượng cũng bị đốt trụi. Cho đến năm 1949 dân làng mới lại phục hồi được đình Thượng như kiểu thức cũ, còn đình Trung và đình Hạ thì chỉ phục hồi được một cách tạm thời. Tuy quán Yên Sở đã bị giặc Pháp tàn phá nặng nề, tuy khu rừng bao quanh quán đã mất đi vẻ thâm nghiêm, nhưng nhìn về toàn bộ thì quán làng Yên Sở vẫn còn là một tích lịch sử đẹp, có tính hấp dẫn đối với du khách tham quan vì còn có những pho tượng nguyên vẹn cũng như nhà ngựa đồng, nhà bia đá, nên đáng được bảo lưu một cách đúng mức.
Theo Danh nhân quê hương, Ty Văn hóa thông tin Hà Sơn Bình, 1976

QUÁN GIÁ VÀ TƯỚNG LÝ PHỤC MAN

Triệu Chinh Hiểu
KTĐT-Xã Yên Sở (huyện Hoài Đức) có tên nôm là Giá Lụa hoặc Giá. Làng Giá trồng rất nhiều cây dừa nên còn gọi là “làng Dừa” và tương truyền đây là một sở đồn điền ngày xưa có người Chiêm Thành (Chăm pa) sinh sống.
Quán Giá là đền thờ chung của hai xã Yên Sở và Đắc Sở. Quán ở đây có nghĩa là nơi thờ thành hoàng làng, không phải nơi thờ tự của Đạo giáo.
Quán Giá thờ Lý Phục Man, một danh tướng của Lý Bí, sống ở thế kỷ thứ VI, quê ông ở làng Cổ Sở (huyện Hoài Đức), không rõ họ tên thật. Tương truyền ông giỏi võ nghệ, theo Lý Bí khởi nghĩa chống quân Lương (Trung Hoa) xâm chiếm nước ta, lập nhiều chiến công. Nhà Tiền Lý (544-555) thành lập, ông được cử trông coi vùng đất phía Nam, đánh tan cuộc xâm lấn của Chăm pa. Sau đó, ông kết hôn với công chúa Lý Nương, vua ban cho ông họ Lý và chức thiếu úy, gọi là tướng quân Lý Phục Man. Ông trở về quản lĩnh vùng đất Đỗ Động, Đường Lâm. Nhà Lương lại đưa quân sang xâm lược nước Vạn Xuân. Ông chỉ huy quân sĩ đánh giặc và hi sinh ở chiến trường. Thương nhớ và biết ơn ông, nhân dân ở nhiều nơi như Yên Sở (Hoài Đức), Xuân Đỉnh (Từ Liêm)… dựng đền, đình thờ Lý Phục Man.
Năm 1947, giặc Pháp đã đốt phá gần hết Quán Giá, chỉ còn lại hai tam quan, ba bức tường và hậu cung. Sau này, trên nền cũ, nhân dân địa phương đã dựng lại cả ba nhà đại đình, trung đình và thượng điện, tuy có nhỏ hơn trước song vẫn bảo đảm sự thờ cúng trang nghiêm. Tòa thượng điện vẫn còn bức tường hồi xây từ thời Nguyễn có các ô hình trang trí và cột trụ phía trước có đắp nghê trên đỉnh cột như một sự kiểm soát người vào quán lễ thánh. Bên cạnh khu đền chính, phía hồi phải có nhà bia và nhà ở của tuần canh (thời xưa), phía hồi trái có dãy nhà để ngựa và nhà bếp phục vụ cho sinh hoạt lễ hội. Lại thêm vườn hoa, cây cảnh, hòn non bộ ở đằng sau, tạo thành một cảnh quan cổ kính, trang nhã.
Riêng về hai tam quan, cái ngoài cách cái trong 20 mét, được các nhà nghiên cứu coi là trường hợp duy nhất trong cấu trúc đình đền ở nước ta. Trên tam quan thứ hai có gắn 49 mảnh đất nung được trang trí. Ở hai bức tường liền với hai cột trụ lớn có những viên gạch rất đặc biệt. Tường phía đông có 23 viên, tường phía tây có 26 viên. Đó là những viên gạch nung, vuông, có đường chỉ viền xung quanh, giữa là những hình nổi, không hình nào giống hình nào, tạo thành một bức tranh sống động. Các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian thì coi đó là những cảnh sinh hoạt: người đang dong trâu cày ruộng, cô gái tắm ở ao sen, người cưỡi voi, người cưỡi ngựa, người gánh củi, hai người đánh cờ, người bơi thuyền đánh cá, mấy chú bé chăn trâu đùa nghịch… Các nhà nghiên cứu Phật giáo thì lại coi đó là những tích trong Phật thoại: cảnh hươu và mặt trời (hay hoa) là minh họa cảnh Phật Thích ca thuyết pháp lần đầu ở Lộc Uyển, cảnh ao sen có người tắm là miêu tả cảnh Phật tắm trước khi lên ngồi dưới gốc cây bồ đề, cảnh voi và hai người ngã vật là cảnh voi điên ở Rajagrha…
Trong Quán Giá may mắn còn tượng Lý Phục Man (không bị giặc Pháp phá hủy) ở giữa và tượng hai bà Phương Dung và Ả Nương ở hai bên, cùng bốn pho tượng đứng là các thị nữ, hộ sĩ. Ba pho tượng chính được tạo tác rất cẩn thận, ứng với ba ngai thờ, được chạm khắc tỉ mỉ, tỉa tót kỹ lưỡng. Cũng trang trọng như ngai thờ là hai hương án và một cỗ kiệu. Lại có một con ngựa to bằng đồng, bên ngoài phủ lớp sơn.
Nếu những di vật trên chỉ có thể biết niên đại tương đối khoảng thế kỷ XIX thì năm tấm bia đá lại cho biết niên đại tuyệt đối sớm hơn, thuộc các năm 1620, 1671, 1681, 1728 và 1803. Chính các bài văn bia này đã nói rõ thế đất địa linh sinh ra nhân kiệt, ca ngợi sự nghiệp của Lý Phục Man. Theo văn bia, thời Lý đã dựng Quán Giá, tạc tượng, thời Trần mở rộng đền (quán) và gia phong mỹ hiệu, thời Lê Trung hưng nhiều lần ban sắc, xây tam quan, nghi môn, thềm đá. Đến thời Nguyễn làm máng đồng, các hoành phi, câu đối…
Hàng năm, nhân dân vùng Giá (gồm 3 xã Yên Sở, Đắc Sở và Tiên Yên của huyện Hoài Đức) mở hội từ ngày 10 đến 16 tháng ba âm lịch. Hội Giá đã đi vào ca dao “Bởi Đăm, rước Giá, hội Thầy…” là hội to được nhiều khách thập phương tới tham dự. Hai đám rước của Yên Sở và Đắc Sở đến đình, quán của nhau rồi quay về. Lễ hội tái hiện chiến trận của anh hùng Lý Phục Man. Mượn yếu tố tâm linh văn hóa, lễ hội nhắc nhở các thế hệ sau ghi nhớ công ơn của người tướng tài đánh giặc, bảo vệ đất nước.
Nguồn tin: Báo Kinh tế & Đô thị
________
Ghi chú: Đây là bài báo mới nhất về Lý Phục Man được đăng ngày 15/9/2009

ĐỀN AN SỞ

Trần Kiêm Đạt
Ngôi đền nầy còn được gọi là đền Quán Giá, ở bến đò Cổ Sở (tên nôm là Bến Giá) xã An Sở, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Ngôi đền nầy ngày trước thờ bộ tướng của vua Lý Nam Đế là Gia Thông Đại Vương Lý Phục Man và những cận tướng; về sau lại còn thờ Quan Công và Thiên Tiên Thánh Mẫu theo những truyền thuyết Trung Hoa và dân gian.
Bấy giờ quân Lâm Ấp thường đem quân sang cướp phá vùng biên thùy gây tai hại cho dân làng trong nhiều địa phương khác nhau... Tướng Lý Phục Man được lệnh đem quân đánh dẹp đem lại thanh bình cho dân chúng. Vua Lý Nam Đế tưởng thưởng rất hậu, đồng thời gả công chúa Nam Hoa cho, ban cho họ Lý, tên tự là Phục Man, thăng chức Thái Úy, đứng đầu trăm quan trong triều đình.
Sau nhà Lương sai Trần Bá Tiên đem đại quân sang xâm lăng nước ta, quân ta thua trận thủy chiến tại khu vực gần hồ Điển Triết (năm 546), vua Lý Nam Đế phải lánh vào động Khất Lạo rồi băng hà tại đó. Lý Phục Man thiếu lương thực, nên phải tự sát để khỏi rơi vào tay địch. Thi hài của ông được đưa về mai táng ở bến Hồ Mã gần bờ sông.
Năm Bính Thìn, niên hiệu Thuận Thiên thứ 7 (1016) vua Lý Thái Tổ nhân đi xem địa thế núi sông, đến bến đò An Sở, tìm hỏi được sự tích, bèn phong ông làm Phúc Thần của vùng nầy. Tương truyền đêm trước nhà vua chiêm bao thấy có dị nhân đến lạy, rồi kể lại lịch của mình; trước khi lui ra có đọc một bài thơ:

Thiên hạ tao mông một,
Trung thần nặc tính danh.
Trung thiên minh nhật nguyệt,
Thục bất kiến kỳ hình.

Nghĩa là:
Thiên hạ khi mờ tối,
Trung thần giấu tính danh.
Giữa trời nhật nguyệt sáng,
Ai chẳng thấy dáng hình.

Khi đó có quan Ngự sử đại phu Lương Nhậm Vân sau khi được xem bài thơ đã tâu: -Ngụ ý của cổ nhân trung thần nầy là muốn được thờ phượng.
Nhà vua nghe theo, bèn cho dựng đền thờ và đắp tượng đúng theo hình dáng mà mình cảm nhận được trong giấc mơ. Trùng Hưng thứ I (1285) vua Trần Nhân Tông sắc phong thần là Chung An Đại Vương. Trong đền thờ nầy còn lưu lại tấm bia của quan Lễ Bộ Hữu Tham Tri Nguyễn Tuấn Ngạn soạn ghi việc trùng tu ngôi đền năm Cảnh Trị (1663).
Nguồn tin: http://vn.myblog.yahoo.com/kienthuc-vanhoa/
Giáo Sư Trần Kiêm Đạt: Thành viên Société Des Etudes Indochinoises (SEI); Thành viên Bulletin Des Amis du Vieux Hué (BAVH); Giáo sư Đại học Đông phương (California); Giáo sư thỉnh giảng University of California-Irvine. Hiện cư ngụ tại: San Gabriel, CA.
___________
Ghi chú: Đây là thông tin từ GS. sống ở nước ngoài, chúng tôi chưa tìm thấy tài liệu của các nhà nghiên cứu Việt Nam ở nước ngoài đồng nhất hai nhân vật lịch sử thời Tiền Lý này. Nhà nghiên cứu Tạ Chí Đại Trường cũng cho Lý Phục Man chỉ là vị thần sông Đáy.
Với nhà nghiên cứu người Mỹ rất am hiểu lịch sử Việt Nam là GS. Keith Weller Taylor: Khi đọc bài dịch từ luận án tiến sỹ của GS. Keith Weller Taylor, mừng vì ông dẫn ra tài liệu cổ về Lý Phục Man. Nhưng khi có bản tiếng Anh "The Birth of Vietnam", mới hiểu ông đã dùng thông tin từ "Việt điện u linh" và viết:
“Ông (Phục Man) phụ tá vị vua ở phương Nam này với tư cách là một đại tướng quân và nổi tiếng là một người trung thành và dũng cảm. Ông được giao phó cai quản hai vùng thung lũng Đỗ Động và Đường Lâm; bọn Lao [man di] rất sợ ông và không dám gây rối, ông đã giữ được thái bình trong khắp vùng”.
Trong luận án của mình hoàn thành năm 1976, nhà sử học nước ngoài này cũng phân biệt rõ hai nhân vật.
Họ tên:
Email:
Tiêu đề:
Lời nhắn:
Xác nhận:
free counters